Văn học các dân tộc thiểu số Việt Nam - Những dấu ấn đặc biệt
Dấu ấn đầu tiên chính là sự trưởng thành của các thế hệ văn nghệ sỹ gắn bó với sự nghiệp cách mạng. Những người đặt viên gạch đầu tiên cho văn học các DTTS)Việt Nam chính là lớp tác giả trưởng thành trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp. Phần lớn họ là trí thức, gắn bó sâu sắc với cộng đồng dân tộc mình, sớm giác ngộ cách mạng và hòa mình vào cuộc chiến đấu của đất nước. Trong hành trình sáng tạo, họ mở rộng nhân sinh quan, thế giới quan và định hình phong cách riêng. Đây là thế hệ mở đường, xây dựng nền tảng cho văn học DTTS hiện đại. Những tên tuổi như Nông Quốc Chấn, Nông Minh Châu, Nông Viết Toại, Đinh Sơn, Bàn Tài Đoàn, Hoàng Nó, Y Điêng, Xu Man, Mlô Y Choi, Nay Nô, Kpă Ylăng… đã tạo ra dấu ấn đậm nét.

Qua các giai đoạn sau, đội ngũ sáng tác người DTTS ngày càng lớn mạnh với nhiều tác giả có bút lực chắc chắn, phong cách riêng, kết hợp hài hòa giữa tinh thần dân tộc và hơi thở thời đại. Nhiều tác giả có tác phẩm được đưa vào giảng dạy trong chương trình phổ thông như bài thơ “Nói với con” của Y Phương, bài thơ “Chiều biên giới” của Lò Ngân Sủn; truyện ngắn “Chích bông ơi!” của Cao Duy Sơn…
Nhiều tác giả định hình phong cách sáng tác riêng như Linh Nga Niê Kđăm, Ka Sô Liễng, Đinh Xăng Hiền, Hơ Vê, Hồ Chư, Krajan Plin, Mã Thế Vinh, Hoàng Hạc, Triều Ân, Vi Hồng, Hùng Đình Quý, Kim Nhất, Lò Ngân Sủn, Vương Trung, Y Phương, Ma Trường Nguyên, Pờ Sảo Mìn, Cao Duy Sơn… Bối cảnh hiện nay, đang tạo thêm nhiều điểm nhấn mới mẻ, đóng góp tích cực vào dòng chảy văn học các DTTS là những gương mặt trẻ như Bế Phương Mai, Nông Quốc Lập, A Nhú, Ykô Niê, Niê Thanh Mai, H’Siêu Bya, H’Xíu H Mok, H’Phi La Niê, H’Lê Na, Đinh Su Giang, H’Trem Knul, K’sor Bi Tô, H’phi La Niê, H’wera Niê, Y Việt Sa, H’xíu H’Môk… Đội ngũ tác giả đang ở độ tuổi sung sức, có tài năng, có tâm huyết, có khát vọng cống hiến cho nghệ thuật. Sự chuyển biến quan trọng ấy bắt nguồn từ chính nỗ lực tự đổi mới của các tác giả khi không ngừng tìm tòi và làm mới diện mạo văn nghệ DTTS đương đại.
Dấu ấn thứ hai là sự phong phú của đề tài và loại hình sáng tác – dấu ấn của quá trình hội nhập vào cuộc sống, văn hóa đương đại. Một bức tranh nhiều màu sắc trong sáng tạo văn học nghệ thuật từ Việt Bắc, Tây Bắc cho đến Nam Trung Bộ, vùng Khmer đã được các tác giả khắc họa bằng chính những trải nghiệm của bản thân, bằng sự tin yêu và gửi gắm với cuộc sống, con người đồng bào các dân tộc. Dẫu còn mộc mạc dung dị, những các sáng tác của Nông Quốc Chấn, Bàn Tài Đoàn, Cầm Biêu, Hoàng Nó, Lương Quy Nhân, Đinh Sơn hay Y Điêng, Nông Minh Châu… thời kì đầu luôn giàu cảm xúc; tạo nền tảng nghệ thuật và tư tưởng để các thế hệ nhà văn DTTS phát triển bền vững về sau.
Sau năm 1975, văn học DTTS thay đổi mạnh mẽ về nội dung và hình thức; sự đa dạng hóa trong khuynh hướng sáng tác; hiện thực đời sống được lý giải sâu sắc hơn; ý thức về bản sắc văn hóa, về vị thế và tinh thần dân tộc càng ngày càng được khẳng định trong từng trang viết. Các nhà văn cũng chọn vấn đề thế sự: sự đổi thay của phong tục, biến đổi văn hóa, di cư, tái định cư, những mâu thuẫn âm thầm trong đời sống cộng đồng; bối cảnh kinh tế thị trường, internet và điện thoại thông minh sẽ tác động đến vấn đề bản sắc,.… Ngôn ngữ nghệ thuật cũng trở nên linh hoạt hơn; giọng điệu, kết cấu, biểu tượng được khai thác đa dạng, tiếp thu dòng chảy văn học hiện đại để đổi mới hình thức tự sự, phát triển giọng điệu cá nhân và ý thức sáng tạo chuyên nghiệp.
Một dấu ấn quan trọng khác là mỗi trang viết của các nhà văn DTTS đều thể hiện một ý thức sâu sắc trong việc bảo tồn và phát huy những giá trị văn hóa đặc sắc của cộng đồng mình. Có thể khẳng định từ khi đất nước thống nhất (1975) các nhà văn đã góp cho văn học nhiều tác phẩm có giá trị. Qua từng câu chữ, các nhà văn đã khéo léo lồng ghép những yếu tố văn hóa, phong tục, tập quán của các dân tộc vào câu chuyện của mình, góp phần giữ gìn những di sản tinh thần quý báu và làm giàu thêm kho tàng văn hóa dân tộc. Sự đóng góp này không chỉ giúp bảo vệ bản sắc dân tộc mà còn giúp cho những giá trị văn hóa ấy được tỏa sáng, lan tỏa và tiếp nối trong các thế hệ mai sau. Văn xuôi Hlinh Niê, Y Điêng, Kim Nhất… người đọc khó có thể quên hình ảnh gió núi Tây Nguyên; Văn xuôi Vi Hồng, Cao Duy Sơn… tập trung miêu tả bức tranh nhiên nhiên miền núi phía Bắc; các tri thức văn hóa dân gian được lồng vào nhau, làm nên sự hấp dẫn cho tác phẩm như: Kim Nhất với Ly hôn, Luật của rừng; Y Điêng với Chuyện trên bờ sông Hinh; Niê Thanh Mai với Suối của rừng, Về bên kia núi , “Phía nào sương thôi rơi”; Cao Duy Sơn với Chòm ba nhà, Ngôi nhà xưa bên suối, Đàn trời, …
Văn học các dân tộc thiểu số Việt Nam - những khoảng lặng cần khỏa lấp
Hoạt động nghiên cứu, phê bình về văn học còn khá khiêm tốn, chưa tương xứng với tiềm năng và giá trị vốn có. Số lượng công trình chuyên sâu không nhiều, phạm vi đề cập còn hẹp, thiếu những tác phẩm nghiên cứu có tính hệ thống và chiều sâu học thuật. Đội ngũ sáng tác là người DTTS không đồng đều giữa các dân tộc. Trong tổng số 54 dân tộc anh em, mới chỉ có một bộ phận nhỏ có người tham gia sáng tác văn học, trong khi nhiều dân tộc khác hoàn toàn chưa hình thành lực lượng cầm bút. Điều này khiến kỳ vọng mỗi dân tộc có ít nhất một nhà văn hay nhà thơ tiêu biểu vẫn còn xa vời. Thiếu vắng các tác phẩm bằng tiếng dân tộc trên các phương tiện truyền thông đại chúng cũng làm hạn chế khả năng lan tỏa bản sắc văn hóa và tiếng nói riêng của từng cộng đồng
Công tác quảng bá, giới thiệu tác phẩm đến công chúng cả nước chưa rộng rãi, đặc biệt là mảng văn học thiếu nhi DTTS Việt Nam, đang còn thiếu các hình thức phổ biến hiệu quả nên phạm vi đọc còn hạn chế, chưa được quan tâm rộng rãi trong đời sống. Điều này làm giảm khả năng tiếp cận của độc giả, đồng thời hạn chế sự giao lưu, đối thoại văn hóa giữa các dân tộc…
Để văn học các dân tộc thiểu số tiếp tục khẳng định vị thế, cần chú trọng bảo tồn giá trị văn hóa truyền thống: Văn học chỉ có thể phát triển bền vững khi được nuôi dưỡng bởi kho tàng văn hóa dân gian. Những đề án quốc gia về bảo tồn văn hóa DTTS thời gian qua đã góp phần khuyến khích cộng đồng tham gia gìn giữ bản sắc, đồng thời tạo nguồn chất liệu phong phú cho sự sáng tạo các thể loại văn học.
Khuyến khích các nhà văn DTTS sáng tác bằng chính ngôn ngữ mẹ đẻ của mình hoặc song ngữ: Sáng tác bằng cả tiếng dân tộc và tiếng Việt giúp tác phẩm vừa giữ được văn hóa, vừa mở rộng khả năng tiếp cận độc giả. Nhiều nhà văn như Nông Quốc Chấn, Bàn Tài Đoàn, Inrasara,… đã thành công ở ngôn ngữ song song này. Thế hệ trẻ cũng cần ý thức rằng ngôn ngữ dân tộc là không gian văn hóa, là chìa khóa mở vào tâm hồn dân tộc mà người sáng tác có trách nhiệm gìn giữ.
Giải pháp cuối cùng nhưng vô cùng quan trọng, công việc sáng tạo thuộc về người nghệ sĩ; điều này đòi hỏi quá trình sáng tạo cần gắn liền với sự chọn lọc có ý thức những tinh hoa của văn hóa nhân loại và các trào lưu lớn trên thế giới, từ đó hình thành những giá trị mang dấu ấn riêng. Sáng tạo văn học không chỉ kế thừa truyền thống mà còn phải hướng tới tương lai. Tuy nhiên, khi đã tạo dựng được những tác phẩm dung hòa giữa yếu tố truyền thống và hiện đại, người cầm bút cần trở về với cộng đồng, gắn bó và đóng góp cho dân tộc của mình. Chính sự trở về ấy là yếu tố cốt lõi, quyết định ý nghĩa và sức sống của sáng tạo văn nghệ DTTS./.
