Dòng chảy lịch sử dân tộc Việt Nam trong thế kỷ XX và những thập niên đầu thế kỷ XXI luôn gắn liền với mùa Xuân - mùa của khởi đầu, của hy vọng và của những bước ngoặt lớn lao. Trong dòng chảy ấy, những bài thơ chúc Tết của Bác Hồ không chỉ là sản phẩm văn chương giàu cảm xúc, mà còn là những văn kiện tinh thần đặc biệt, kết tinh tư duy chiến lược, niềm tin cách mạng và khát vọng phát triển của dân tộc

Đọc lại các bài thơ Xuân năm Ngọ của Người: từ Nhâm Ngọ (1942), Giáp Ngọ (1954) đến Bính Ngọ (1966), trong không khí cả nước đang đón chào mùa Xuân Bính Ngọ (2026) - mùa Xuân mở ra kỷ nguyên phát triển mới theo tinh thần Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng, càng cho thấy giá trị thời đại và sức sống bền bỉ của tư tưởng Hồ Chí Minh

Mùa Xuân Nhâm Ngọ (1942) - mùa Xuân của niềm tin và dự báo lịch sử

Năm 1942 là một dấu mốc đặc biệt trong đời sống chính trị và tinh thần của dân tộc. Sau hơn ba mươi năm bôn ba tìm đường cứu nước, , ngày 28/01/1946, Bác Hồ trở về Tổ quốc, trực tiếp lãnh đạo cách mạng Việt Nam. Được đón Tết cổ truyền trên quê hương đất mẹ, trong hoàn cảnh cách mạng còn đầy gian nan, Người đã viết bài thơ chúc Tết đầu tiên gửi đồng bào, mở đầu cho một mạch thơ chúc Xuân độc đáo trong văn học cách mạng Việt Nam.

“Tháng ngày thấm thoắt chóng như thoi

Năm cũ qua rồi, chúc năm mới

Chúc phe xâm lược sớm diệt vong,

Chúc phe dân chủ sẽ thắng lợi,

Chúc đồng bào ta đoàn kết mau,

Chúc Việt Minh ta càng tiến tới,

Chúc toàn quốc ta trong năm nay,

Cờ đỏ sao vàng bay phấp phới.

Năm nay là năm Tết vẻ vang

Cách mạng thành công khắp thế giới”.

Bác Hồ tại Đại hội Anh hùng và Chiến sĩ Thi đua, năm 1966 (Ảnh tư liệu)

Bài thơ mừng Xuân Nhâm Ngọ (1942) vang lên như một bản tuyên ngôn chính trị bằng thi ca. Trong những câu thơ ngắn gọn, hàm súc, Bác vừa tổng kết thời gian “thấm thoắt chóng như thoi”, vừa gửi gắm những lời chúc mang tính định hướng chiến lược: chúc phe xâm lược sớm diệt vong, chúc phe dân chủ thắng lợi, chúc đồng bào đoàn kết, chúc Việt Minh tiến tới, và đặc biệt là hình ảnh “Cờ đỏ sao vàng bay phấp phới”. Đó không chỉ là lời chúc, mà là một dự báo lịch sử đầy bản lĩnh và niềm tin sắt đá.

Ba năm sau, cuộc Tổng khởi nghĩa Tháng Tám 1945 nổ ra, chính quyền về tay nhân dân trên phạm vi cả nước, đúng như tầm nhìn và khát vọng mà Bác Hồ đã gửi gắm trong vần thơ xuân năm Nhâm Ngọ. Từ Lạng Sơn đến Mũi Cà Mau, lá cờ đỏ sao vàng tung bay, hiện thực hóa ước nguyện của Người. Ngày 2/9/1945, Bác Hồ đọc Tuyên ngôn Độc lập, khai sinh nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, mở ra kỷ nguyên mới cho dân tộc: Kỷ nguyên độc lập, tự do. Nhìn lại, thơ xuân Nhâm Ngọ không chỉ là cảm xúc cá nhân của người con xa quê trở về, mà là sự kết tinh giữa trí tuệ cách mạng, bản lĩnh chính trị và niềm tin tất thắng vào con đường dân tộc đã lựa chọn.

Mùa Xuân Giáp Ngọ (1954) – mùa Xuân của nhiệm vụ lịch sử và ý chí kiến quốc

“Năm mới, quân dân ta có hai nhiệm vụ rành rành:

-Đẩy mạnh kháng chiến để giành độc lập tự do,

-Cải cách ruộng đất là công việc rất to,

-Dần dần làm cho người cày có ruộng khỏi lo nghèo nàn.

Quân và dân ta nhất trí kết đoàn

Kháng chiến, kiến quốc, nhất định hoàn toàn thành công

Hòa bình, dân chủ thế giới khắp Nam Bắc Tây Đông

Năm mới thắng lợi thành công càng nhiều”.

Xuân Giáp Ngọ (1954) đến trong bối cảnh đất nước đang bước vào giai đoạn quyết liệt của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp. Lúc này, cách mạng Việt Nam không chỉ đối mặt với thử thách sinh tử trên chiến trường, mà còn đứng trước yêu cầu to lớn của việc xây dựng hậu phương vững chắc. Trong bài thơ chúc Tết năm ấy, Bác không dùng nhiều hình ảnh ước lệ, mà trực tiếp nêu rõ “hai nhiệm vụ rành rành”: đẩy mạnh kháng chiến để giành độc lập tự do, và tiến hành cải cách ruộng đất để người cày có ruộng.

Điều đặc biệt trong thơ Xuân Giáp Ngọ là sự kết hợp hài hòa giữa mục tiêu trước mắt và lâu dài, giữa chiến tranh giải phóng và kiến thiết xã hội mới. Bác xác định rõ: kháng chiến phải đi đôi với kiến quốc; độc lập dân tộc phải gắn liền với giải phóng giai cấp và nâng cao đời sống nhân dân. Cải cách ruộng đất không chỉ là một chính sách kinh tế - xã hội, mà còn là nền tảng để củng cố khối đại đoàn kết toàn dân, tạo sức mạnh vật chất và tinh thần cho tiền tuyến.

Lời thơ “Quân và dân ta nhất trí kết đoàn” vang lên như một mệnh lệnh chính trị và một lời hiệu triệu. Chính sự đoàn kết ấy đã tạo nên sức mạnh tổng hợp, làm nên chiến thắng Điện Biên Phủ “lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu” chỉ vài tháng sau Tết Giáp Ngọ. Bài thơ xuân năm 1954 vì thế mang đậm tính chính luận, thể hiện tư duy chiến lược sắc bén và niềm tin mãnh liệt của Bác vào thắng lợi cuối cùng của sự nghiệp kháng chiến, kiến quốc.

Chủ tịch Hồ Chí Minh tại Tết trồng cây năm 1969 (Ảnh tư liệu)

Mùa xuân Bính Ngọ (1966) – mùa xuân của ý chí quyết chiến, quyết thắng

“Mừng miền Nam rực rỡ chiến công

Nhiều Dầu Tiếng, Bầu Bàng, Pơlâyme, Đà Nẵng… 

Mừng miền Bắc chiến đấu anh hùng

Giặc Mỹ leo thang ngày càng thua nặng.

Đồng bào cả nước đoàn kết một lòng,

Tiền tuyến, hậu phương, toàn dân cố gắng

Thi đua sản xuất, chiến đấu xung phong,

Chống Mỹ cứu nước ta nhất định thắng”.

Xuân Bính Ngọ (1966) đến trong bối cảnh cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước bước vào giai đoạn vô cùng ác liệt. Đế quốc Mỹ leo thang chiến tranh, mở rộng đánh phá miền Bắc, hòng khuất phục ý chí của dân tộc Việt Nam. Trong hoàn cảnh đó, bài thơ chúc Tết của Bác vang lên như một bản hùng ca cách mạng, khẳng định niềm tin sắt đá vào sức mạnh đoàn kết của toàn dân tộc.

Bác mừng miền Nam “rực rỡ chiến công”, nhắc đến những địa danh gắn liền với chiến thắng vang dội; đồng thời mừng miền Bắc “chiến đấu anh hùng”, kiên cường trước bom đạn kẻ thù. Hình ảnh tiền tuyến - hậu phương hòa quyện trong một chỉnh thể thống nhất, thể hiện tư tưởng chiến tranh nhân dân toàn diện. Lời kêu gọi “thi đua sản xuất, chiến đấu xung phong” cho thấy Bác luôn nhìn nhận cuộc kháng chiến không chỉ là cuộc đối đầu giữa quân đội hai bên, mà là cuộc tổng động viên sức người, sức của, ý chí và niềm tin của cả dân tộc.

Đặc biệt, câu thơ “Chống Mỹ cứu nước ta nhất định thắng” là sự khẳng định đanh thép chân lý mà Bác đã nhiều lần nhấn mạnh: “Không có gì quý hơn độc lập, tự do”. Đó không phải là niềm tin cảm tính, mà được xây dựng trên cơ sở thực tiễn đấu tranh, trên sức mạnh đoàn kết của nhân dân và chính nghĩa của cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc. Thực tiễn lịch sử sau này đã chứng minh tầm nhìn và niềm tin ấy hoàn toàn đúng đắn.

Xuân Bính Ngọ (2026) – mùa Xuân của kỷ nguyên phát triển mới

Bác Hồ đã đi xa, nhưng mỗi độ Xuân về, đọc lại những vần thơ chúc Tết của Người, chúng ta như được tiếp thêm nguồn sức mạnh tinh thần to lớn. Từ Xuân Nhâm Ngọ gieo mầm niềm tin, Xuân Giáp Ngọ xác định nhiệm vụ lịch sử, đến Xuân Bính Ngọ khẳng định ý chí quyết thắng, các bài thơ xuân của Bác đều gặp nhau ở một điểm chung: đặt vận mệnh Tổ quốc, hạnh phúc của nhân dân lên trên hết, khơi dậy mạnh mẽ tinh thần đoàn kết, ý chí tự lực, tự cường, khát vọng vươn lên của toàn dân tộc và niềm tin vào tương lai tươi sáng của đất nước.

Trong không khí đón Xuân Giáp Ngọ (2026) gắn với việc triển khai và tổ chức thực hiện Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng mang ý nghĩa đặc biệt: mùa Xuân của khát vọng phát triển nhanh và bền vững, của quyết tâm đưa đất nước bước vào kỷ nguyên mới: kỷ nguyên công nghiệp hóa, hiện đại hóa gắn với đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, phát triển kinh tế tri thức và hội nhập quốc tế sâu rộng.

Đọc lại và suy ngẫm những bài thơ Xuân năm Ngọ của Bác càng mang ý nghĩa thời sự sâu sắc. Nếu như trong các mùa xuân lịch sử, nhiệm vụ trung tâm của dân tộc là giành và giữ vững độc lập, tự do, thì trong mùa xuân của kỷ nguyên mới, nhiệm vụ ấy được tiếp nối và nâng lên tầm cao mới: xây dựng đất nước phát triển nhanh, bền vững, phồn vinh và hạnh phúc. Điểm tương đồng xuyên suốt là tinh thần chủ động, sáng tạo, dám nghĩ, dám làm và ý chí vượt qua mọi khó khăn, thách thức vì lợi ích tối cao của quốc gia - dân tộc và vì lợi ích, nguyện vọng chính đáng của nhân dân.

Những bài thơ Xuân năm Ngọ của Bác Hồ vì thế không chỉ thuộc về quá khứ, mà vẫn đang đồng hành cùng hiện tại và soi sáng tương lai. Đó là nguồn động viên tinh thần to lớn, nhắc nhở mỗi cán bộ, đảng viên và mỗi người dân Việt Nam hôm nay về trách nhiệm lịch sử của mình: tiếp nối ý chí, khát vọng và niềm tin mà Bác đã gửi gắm, biến khát vọng phát triển thành hành động cụ thể, đưa đất nước vững bước tiến lên trong kỷ nguyên mới, xứng đáng với những mùa xuân lịch sử mà Người đã từng dự báo, dẫn dắt và hiến trọn đời mình để gây dựng.