Tính khoa học, cách mạng của tư tưởng Hồ Chí Minh
Tính khoa học và cách mạng là hai thuộc tính cốt lõi, hòa quyện hữu cơ, tạo nên giá trị và sức sống trường tồn của tư tưởng Hồ Chí Minh.
Tính khoa học trước hết thể hiện ở chỗ hệ thống tư tưởng của Người không phải là những giáo điều xơ cứng hay những suy tưởng chủ quan, mà là sự kế thừa, vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin vào thực tiễn đặc thù của một nước thuộc địa nửa phong kiến. Bằng thế giới quan và phương pháp luận biện chứng, Hồ Chí Minh đã phân tích thấu đáo các quy luật vận động của lịch sử, các mâu thuẫn cơ bản của thời đại để tìm ra con đường giải phóng đúng đắn cho dân tộc Việt Nam. Tính khoa học ấy còn biểu hiện ở tinh thần thực tiễn sâu sắc: mọi lý luận đều bắt nguồn từ thực tiễn, được kiểm nghiệm bởi thực tiễn và quay trở lại phục vụ lợi ích của nhân dân. Người không rập khuôn máy móc kinh điển mà luôn có sự phát triển vượt bậc, ví như việc xác định động lực cách mạng không chỉ là giai cấp công nhân, nông dân mà là khối đại đoàn kết toàn dân tộc, hay việc khẳng định cách mạng giải phóng dân tộc ở thuộc địa có thể bùng nổ và giành thắng lợi trước cách mạng vô sản ở chính quốc.
Tính cách mạng trong tư tưởng Hồ Chí Minh chính là linh hồn, là động lực thúc đẩy hành động lịch sử. Đó là tinh thần đổi mới triệt để, hướng tới mục tiêu xóa bỏ tận gốc mọi hình thức áp bức, bóc lột, bất công, giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp và giải phóng con người. Tính cách mạng của tư tưởng Hồ Chí Minh mang bản chất nhân văn sâu sắc, không dừng lại ở việc lật đổ chế độ cũ mà hướng tới xây dựng một xã hội mới tốt đẹp hơn - xã hội xã hội chủ nghĩa, nơi “dân làm chủ”, “ai cũng có cơm ăn, áo mặc, ai cũng được học hành”. Tinh thần cách mạng ấy còn là sự kiên quyết, triệt để trong cuộc đấu tranh chống lại chủ nghĩa cá nhân, chống lại những biểu hiện thoái hóa, biến chất của đội ngũ cán bộ, đảng viên thông qua việc không ngừng tự đổi mới, tự chỉnh đốn Đảng.
Sự kết hợp biện chứng giữa tính khoa học và tính cách mạng đã khiến tư tưởng Hồ Chí Minh trở thành một hệ thống lý luận mở, luôn vận động, phát triển và đồng hành cùng thời đại. Chính vì vậy, hệ tư tưởng này không chỉ là ngọn đuốc soi đường cho các thắng lợi vang dội trong thế kỷ XX, mà tiếp tục là kim chỉ nam vững chắc, dẫn dắt dân tộc Việt Nam tự tin đổi mới, hội nhập quốc tế và vươn mình mạnh mẽ trong kỷ nguyên mới.
Tư tưởng Hồ Chí Minh tiếp tục dẫn đường cho dân tộc trong kỷ nguyên mới
Những người cho rằng tư tưởng của Người đã “lỗi thời” đang cố tình cắt xén lịch sử, họ chỉ nhìn thấy Hồ Chí Minh ở những quyết sách cụ thể trong thời kỳ chiến tranh, trong mô hình kinh tế tập trung quan liêu bao cấp vốn là một tất yếu lịch sử để tập trung nguồn lực cho kháng chiến cứu nước. Giá trị của tư tưởng Hồ Chí Minh với sự nghiệp cách mạng của Việt Nam hiện nay được thể hiện trên những phương diện chủ yếu sau:
Độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội hiện vẫn là một trong bốn nguyên tắc mà Đảng ta hiện đang “kiên định”. Độc lập dân tộc trong thời đại ngày nay không chỉ đơn thuần là chủ quyền lãnh thổ được định hình trên bản đồ, mà là quyền tự chủ về chiến lược, độc lập về kinh tế, bảo tồn được bản sắc văn hóa trước làn sóng đồng hóa toàn cầu. Hồ Chí Minh từng nhấn mạnh: “Nếu nước độc lập mà dân không hưởng hạnh phúc tự do, thì độc lập cũng chẳng có nghĩa lý gì”.
Triết lý phát triển “Lấy nhân dân làm trung tâm” cũng đang là “kim chỉ nam” để Đảng và Nhà nước ta hoạch định các chính sách phát triển bền vững trong kỷ nguyên mới. Khi thế giới đang đối mặt với những cuộc khủng hoảng tài chính, bất bình đẳng giàu nghèo gia tăng, xung đột địa chính trị gay gắt, mô hình phát triển của Việt Nam - đặt mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh” lên hàng đầu chính là sự tiếp nối, cụ thể hóa tư tưởng cốt lõi của Người. Việt Nam phát triển kinh tế thị trường nhưng không hy sinh tiến bộ và công bằng xã hội để chạy theo tăng trưởng kinh tế đơn thuần; đó chẳng phải là sự vận dụng sinh động tư tưởng Hồ Chí Minh vào thực tiễn hiện nay.
Tư tưởng “dĩ bất biến, ứng vạn biến” của Hồ Chí Minh cũng chính là nên tảng để Đảng ta xây dựng đường lối đối ngoại hiện nay. Cái “bất biến” là lợi ích quốc gia - dân tộc, là độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ; còn cái “vạn biến” là sự linh hoạt, uyển chuyển trong phương thức tập hợp lực lượng, đa dạng hóa đối tác. Nhờ thấm nhuần tư duy ngoại giao hòa bình, hữu nghị, tôn trọng lẫn nhau của Người, Việt Nam từ một quốc gia bị bao vây, cấm vận đã thiết lập quan hệ đối tác chiến lược toàn diện với tất cả các cường quốc hàng đầu thế giới, khẳng định uy tín và vị thế vững chắc trên trường quốc tế. Rõ ràng, tư tưởng ngoại giao Hồ Chí Minh không những không lỗi thời, mà còn mang tính tiên phong, mang đến một tầm nhìn chiến lược giúp một quốc gia tầm trung như Việt Nam hóa giải các xung đột, tối ưu hóa lợi ích quốc gia trong một thế giới đa cực đầy rẫy rủi ro.
Tư tưởng xây dựng Đảng “vừa là đạo đức, vừa là văn minh” của Hồ Chí Minh hiện nay cũng chính là nền tảng quan trọng cho quan điểm về xây dựng, chỉnh đốn Đảng ở Việt Nam. Trong giai đoạn hiện nay, công cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực được thực hiện quyết liệt với phương châm: “không có vùng cấm, không có ngoại lệ” chính là sự hiện thực hóa tối cao tư tưởng của Người về xây dựng, chỉnh đốn Đảng. Cuộc chiến chống “giặc nội xâm” này không làm yếu đi bộ máy, mà ngược lại, làm trong sạch Đảng, củng cố niềm tin chiến lược của nhân dân vào chế độ, tạo ra động lực tinh thần to lớn để đất nước vững bước vào kỷ nguyên mới. Cùng với đó, tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức cách mạng, về “cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư” chính là “kim chỉ nam” để xây dựng đội ngũ cán cán bộ cả về năng lực, phẩm chất, đạo đức đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của thực tiễn.
Tư tưởng Hồ Chí Minh về giáo dục, khoa học - công nghệ và trọng dụng nhân tài cũng đang tỏa sáng giá trị trong bối cảnh Việt Nam đẩy mạnh phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao. Hồ Chí Minh từng căn dặn: “Khoa học phải từ sản xuất mà ra và phải trở lại phục vụ sản xuất, phục vụ dân sinh”. Người luôn đặt giáo dục vào vị trí quốc sách hàng đầu với tầm nhìn “vì lợi ích mười năm thì phải trồng cây, vì lợi ích trăm năm thì phải trồng người”. Trong kỷ nguyên mới, khi nguồn lực con người và tri thức trở thành động lực quyết định tốc độ phát triển của mỗi quốc gia, thì chiến lược phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, thu hút nhân tài của Việt Nam hiện nay chính là sự kế thừa trực tiếp mạch nguồn tư tưởng trọng sĩ của Người. Tư tưởng Hồ Chí Minh không giới hạn con người trong những công thức kỹ thuật cụ thể, mà tạo ra nền tảng triết lý giáo dục toàn diện: học để làm việc, làm người, làm cán bộ, để phụng sự giai cấp và nhân dân, tổ quốc và nhân loại. Đó là một hệ giá trị mở, luôn sẵn sàng dung nạp và thích ứng với những tiến bộ mới nhất của nền văn minh nhân loại.
Nhìn lại toàn bộ tiến trình lịch sử cách mạng Việt Nam từ năm 1930 đến nay, mỗi khi đối mặt với những khúc quanh chiến lược, những thử thách sống còn, chính việc kiên định và vận dụng sáng tạo tư tưởng Hồ Chí Minh đã giúp Đảng và nhân dân ta tìm ra lối thoát và vươn lên mạnh mẽ. Thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử của 40 năm đổi mới là minh chứng sống động đập tan mọi luận điệu hoài nghi, xuyên tạc giá trị tư tưởng Hồ Chí Minh. Đổi mới không phải là từ bỏ chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, mà là quá trình nhận thức lại một cách đúng đắn hơn, sâu sắc hơn và vận dụng sáng tạo hơn những nguyên lý cốt lõi của hệ tư tưởng đó vào hoàn cảnh cụ thể của Việt Nam trong điều kiện lịch sử mới.
Có thể thấy rõ, những luận điệu cho rằng tư tưởng Hồ Chí Minh đã “lỗi thời”, “không còn phù hợp” chỉ là những tiếng nói lạc điệu, phản ánh cái nhìn phiến diện, nông cạn, hoặc ý đồ chính trị đen tối nhằm xoá bỏ nền tảng tư tưởng của Đảng ta. Tư tưởng Hồ Chí Minh không phải là một di sản để lưu giữ trong bảo tàng lịch sử, mà là một thực thể sống động, một nguồn năng lượng tinh thần vô tận, tiếp tục đồng hành cùng dân tộc bước vào kỷ nguyên mới với tâm thế tự tin, tự chủ, tự lực, tự cường vững bước tới tương lai.
