Hơn nửa thế kỷ đã trôi qua kể từ ngày Hiệp định Paris được ký kết, mở ra bước ngoặt lịch sử trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước. Trên nền tảng ấy, quân và dân ta đã phát huy sức mạnh tổng hợp, kết hợp chặt chẽ giữa đấu tranh quân sự, chính trị, binh vận và ngoại giao, tạo nên thế và lực mới cho cách mạng Việt Nam. Đỉnh cao của quá trình ấy chính là Đại thắng mùa Xuân 1975 – chiến thắng vĩ đại đã kết thúc cuộc kháng chiến trường kỳ, đưa đất nước bước sang kỷ nguyên độc lập, thống nhất
Bối cảnh lịch sử
Cuối năm 1972, Hoa Kỳ liều lĩnh mở chiến dịch tập kích đường không chiến lược mang mật danh “Linebacker II”, huy động lực lượng không quân hùng hậu với hàng trăm lượt máy bay hiện đại, trút bom xuống miền Bắc, trọng điểm là Hà Nội và Hải Phòng. Âm mưu của Mỹ là dùng sức mạnh hủy diệt để “đưa miền Bắc trở về thời kỳ đồ đá”, buộc nhân dân ta phải khuất phục.
Song, sự ngông cuồng ấy đã bị đánh bại bởi ý chí kiên cường, tinh thần quả cảm của quân và dân ta dưới sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng. Chiến thắng “Điện Biên Phủ trên không” không chỉ bảo vệ vững chắc Thủ đô, mà còn tạo sức ép buộc Mỹ phải ký Hiệp định Paris (27/01/1973), chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam.
Đây là bước ngoặt lịch sử, mở đường cho cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước đi đến thắng lợi hoàn toàn mùa Xuân năm 1975.
Từ Hiệp định Paris đến Đại thắng mùa Xuân năm 1975
Trải qua “4 năm 8 tháng 16 ngày - bắt đầu từ ngày 13/5/1968 và Hiệp định Paris được ký ngày 27/01/1973. Quá trình Hội nghị gồm 201 phiên họp công khai, 45 cuộc gặp riêng giữa Việt Nam và Mỹ, 500 buổi họp báo, gần 1000 cuộc phỏng vấn và nhiều phong trào phản đối chiến tranh Việt Nam trên khắp thế giới. Hiệp định có 9 chương 23 điều, gồm 4 loại điều khoản chính: (i) Các điều khoản chính trị ghi các cam kết của Hoa Kỳ: tôn trọng các quyền dân tộc cơ bản, tôn trọng quyền tự quyết của Nhân dân miền Nam Việt Nam; Hoa Kỳ không tiếp tục dính líu quân sự, không can thiệp công việc nội bộ của miền Nam Việt Nam. (ii) Các điều khoản về quân sự: ngừng bắn, Hoa Kỳ rút hết quân trong 60 ngày; chấm dứt bắn phá miền Bắc; nhận tháo gỡ mìn do Hoa Kỳ đã rải ở miền Bắc. (iii) Các điều khoản về nội bộ miền Nam: nguyên tắc hòa hợp dân tộc, bảo đảm tự do dân chủ, tổ chức tổng tuyển cử tự do, thành lập Hội đồng quốc gia hòa giải, hòa hợp dân tộc gồm ba thành phần để tổ chức tổng tuyển cử. (iv) Các điều khoản về thống nhất Việt Nam, về Lào và Campuchia, về cơ cấu thi hành Hiệp định Ủy ban liên hợp và Ủy ban quốc tế; về Hội nghị quốc tế xác nhận Hiệp định và điều khoản về việc Hoa Kỳ đóng góp hàn gắn vết thương chiến tranh ở Việt Nam dân chủ cộng hòa”[1].

Bà Nguyễn Thị Bình ký Hiệp định Paris, ngày 27/01/1973 (Ảnh tư liệu)
Hiệp định Paris về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam là một thắng lợi lịch sử, kết quả của cuộc đấu tranh anh dũng, kiên cường của toàn toàn dân và toàn quân ta dưới sự lãnh đạo của Đảng. Đây là thắng lợi của sức mạnh quân sự trên chiến trường, sức mạnh ngoại giao trên bàn đàm phán, và hơn hết là sức mạnh của khối đại đoàn kết dân tộc, được hun đúc từ truyền thống giữ nước ngàn đời.
Hiệp định đã tạo ra bước ngoặt chiến lược trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, hiện thực hóa lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Đánh cho Mỹ cút”, đồng thời mở ra tiền đề vững chắc để “đánh cho nguỵ nhào”, giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước vào mùa Xuân năm 1975.
Đây chính là minh chứng hùng hồn cho chân lý: dân tộc Việt Nam, khi đoàn kết một lòng, dưới sự lãnh đạo của Đảng, có thể vượt qua mọi thử thách để giành thắng lợi vẻ vang.
Bài học lớn về bản lĩnh ngoại giao và vai trò lãnh đạo Đảng
Thứ nhất, sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng là nhân tố quyết định mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam
Trong lịch sử hiện đại Việt Nam, không một lực lượng chính trị nào ngoài Đảng Cộng sản Việt Nam có đủ khả năng tập hợp, dẫn dắt và biến khát vọng độc lập, tự do của dân tộc thành hiện thực.
Thắng lợi của Hiệp định Paris nói riêng Đại thắng Mùa Xuân 1975 nói chung là một minh chứng sinh động cho điều đó. Đây là minh chứng cho chân lý: sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng là điều kiện tiên quyết để cách mạng Việt Nam giành thắng lợi.
Chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh không chỉ là kim chỉ nam mà còn là “bộ lọc” để Đảng định hướng đường lối, chính sách. Chính sự kiên định trên nền tảng này đã giúp Đảng vượt qua thử thách, giữ vững bản lĩnh chính trị, đồng thời khơi dậy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc. Đây là yếu tố tạo nên sự khác biệt căn bản giữa cách mạng Việt Nam với nhiều phong trào chính trị khác trong khu vực và thế giới.
Một bài học xuyên suốt là Đảng không bao giờ tự bằng lòng với chính mình. Công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng được coi là nhiệm vụ sống còn, nhằm bảo đảm sự trong sạch, vững mạnh về chính trị, tư tưởng, đạo đức, tổ chức và cán bộ. Đây không chỉ là yêu cầu nội tại mà còn là sự đáp ứng trước những biến động phức tạp của thời đại, khi các thế lực thù địch luôn tìm cách chống phá, chia rẽ.
Trong bối cảnh toàn cầu hóa, cách mạng công nghiệp lần thứ tư, và những thách thức an ninh phi truyền thống, việc giữ vững sự lãnh đạo của Đảng càng trở nên cấp thiết. Con thuyền cách mạng Việt Nam muốn đi xa, đi vững thì phải có tay chèo chắc chắn. Đó chính là Đảng – lực lượng duy nhất đủ bản lĩnh, trí tuệ và uy tín để dẫn dắt dân tộc phát triển bền vững.

Xe tăng Quân Giải phóng tiến vào Dinh Độc Lập trưa 30/4/1975 (Ảnh: Trần Mai Hưởng)
Thứ hai, thực hiện nhất quán đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, tự cường, kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại. sức mạnh trong nước với sức mạnh quốc tế
Nếu bài học thứ nhất khẳng định vai trò quyết định của sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng đối với mọi thắng lợi cách mạng, thì bài học thứ hai nhấn mạnh tầm quan trọng của việc thực hiện nhất quán đường lối đối ngoại của Đảng. Bài học này ngày nay vẫn còn nguyên giá trị.
Đại hội XIV của Đảng tiếp tục khẳng định: “Thực hiện nhất quán đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, tự cường, hoà bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển, đa phương hoá, đa dạng hoá quan hệ đối ngoại; phát triển đối ngoại trong kỷ nguyên mới, tương xứng với tầm vóc lịch sử, văn hoá và vị thế của đất nước. Bảo đảm và bảo vệ cao nhất lợi ích quốc gia - dân tộc trên cơ sở các nguyên tắc cơ bản của luật pháp quốc tế và Hiến chương Liên hợp quốc, hợp tác bình đẳng, cùng có lợi. Chủ động, tích cực đóng góp vào hoà bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển bền vững trên tinh thần là bạn, là đối tác tin cậy, là thành viên tích cực, có trách nhiệm của cộng đồng quốc tế; tham gia chủ động, có trách nhiệm vào việc giải quyết các vấn đề chung của khu vực và quốc tế.”[2]
Quan điểm của Đại hội XIV cho thấy:
Trong bối cảnh thế giới đầy biến động, nguyên tắc độc lập, tự chủ, tự cường là “kim chỉ nam” để Việt Nam giữ vững chủ quyền, không bị lệ thuộc, đồng thời vẫn mở rộng hợp tác. Đây là sự kế thừa truyền thống dựng nước và giữ nước, đồng thời là sự thích ứng sáng tạo với xu thế toàn cầu hóa.
Đường lối đối ngoại của Đảng không khép kín mà chủ trương mở rộng quan hệ với tất cả các quốc gia, tổ chức quốc tế trên cơ sở bình đẳng, cùng có lợi. Chính sách này giúp Việt Nam tránh rơi vào thế bị cô lập, đồng thời tận dụng tối đa nguồn lực bên ngoài để phục vụ phát triển đất nước.
Mọi hoạt động đối ngoại đều đặt lợi ích quốc gia – dân tộc lên hàng đầu, nhưng không tách rời các nguyên tắc của luật pháp quốc tế và Hiến chương Liên hợp quốc. Đây là sự kết hợp hài hòa giữa “cái riêng” và “cái chung”, vừa bảo vệ chủ quyền, vừa góp phần xây dựng môi trường hòa bình, ổn định cho phát triển.
Không chỉ là “bạn” và “đối tác tin cậy”, Việt Nam còn khẳng định vai trò là thành viên tích cực, có trách nhiệm của cộng đồng quốc tế. Việc tham gia giải quyết các vấn đề chung của khu vực và thế giới thể hiện tinh thần chủ động, trách nhiệm, đồng thời nâng cao uy tín, vị thế đất nước.
Thực hiện tốt đường lối đối ngoại theo tinh thần Nghị quyết Đại hội XIV chính là bước đi chiến lược để Việt Nam khẳng định bản lĩnh, phát huy vị thế, đồng thời bảo đảm lợi ích quốc gia – dân tộc trong kỷ nguyên mới. Đây là minh chứng cho sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng, đưa đất nước hội nhập sâu rộng nhưng vẫn giữ vững độc lập, tự chủ, phát triển bền vững.
Như vậy, từ Hiệp định Paris đến Đại thắng mùa Xuân 1975 là minh chứng hùng hồn cho sức mạnh tổng hợp của dân tộc Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Đảng. Đó là sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa đấu tranh quân sự và ngoại giao, giữa bản lĩnh chính trị và tinh thần đoàn kết toàn dân.
Thắng lợi ấy không chỉ khẳng định chân lý: “Không có gì quý hơn độc lập, tự do”, mà còn để lại những bài học lịch sử sâu sắc cho công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hôm nay.
Xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh; củng cố khối đại đoàn kết toàn dân; phát huy sức mạnh nội lực kết hợp với sự ủng hộ quốc tế – đó chính là nền tảng để chúng ta tiếp tục vững bước trên con đường phát triển, bảo vệ vững chắc thành quả cách mạng, giữ gìn độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của đất nước trong mọi tình huống.
Phát huy thành quả Đại thắng mùa Xuân 1975, hơn 50 năm qua, đất nước đã đạt được những thành tựu hết sức to lớn: “Tăng trưởng kinh tế của nước ta bình quân giai đoạn 2021 - 2025 đạt khoảng 6,2%/năm…Quy mô GDP năm 2025 đạt 514 tỉ USD gấp 1,148 lần năm 2020, xếp thứ 32 trên thế giới. GDP bình quân đầu người đạt 5.026 USD. Gia nhập nhóm các nước có thu nhập trung bình cao, được nhiều tổ chức quốc tế uy tín đánh giá cao…”[3].
Chúng ta có quyền tin tưởng và hy vọng rằng: Dưới sự lãnh đạo của Đảng, sự đồng thuận của khối đại đoàn kết toàn dân, nhất định chúng ta sẽ sớm xây dựng thành công một nước Việt Nam giàu mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh trong kỷ nguyên mới.
[1] Hiệp định Paris - dấu mốc quan trọng đi tới hòa bình, thống nhất đấ nước https://dangcongsan.vn.
[2] Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV, tập I, Nxb .Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2026, tr. 117.
[3] Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV, Tập 1, Nxb .Chính trị quốc gia - Sự thật, Hà Nội, 2026, tr. 47
