Nguyễn Cao Kỳ được biết đến là một trong những nhân vật chống cộng sản khét tiếng nhất của Việt Nam Cộng hòa, với nhiều tuyên bố và hành động mạnh mẽ trong suốt sự nghiệp chính trị và quân sự của mình. Tuy nhiên, sau nhiều năm lưu vong ở nước ngoài, đầu những năm 2000, ông Kỳ bỗng nhiên thay đổi thái độ, từ chống cộng sang nói về hòa hợp dân tộc, xây dựng đất nước
Từ chống cộng cực đoan …
Nguyễn Cao Kỳ, với biệt danh “Tướng râu kẽm”, là một trong những biểu tượng của sự đối đầu quyết liệt với chủ nghĩa cộng sản trong chính quyền Việt Nam Cộng hòa. Ông từng giữ các chức vụ quan trọng như Thủ tướng Việt Nam Cộng hòa (1965-1967) và Phó Tổng thống Việt Nam Cộng hòa (1967-1971). Ông được biết đến với tư tưởng chống cộng mạnh mẽ và phong cách lãnh đạo quyết liệt.
Trong thời gian cầm quyền, ông Kỳ từng coi cộng sản là mối đe dọa chính cho sự tồn tại của chế độ Việt Nam Cộng hòa, công khai tuyên bố sẽ chiến đấu đến chết để bảo vệ tự do, dân chủ và giá trị phương Tây tại miền Nam Việt Nam.
Trong các bài phát biểu và tuyên bố trước công chúng, ông thường xuyên lên án mạnh mẽ các hoạt động của Mặt trận Dân tộc Giải phóng Miền Nam và Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, coi đó là mối đe dọa trực tiếp đến tự do và an ninh của miền Nam cũng như toàn bộ khu vực Đông Nam Á.
Khi Hoa Kỳ và Việt Nam Cộng hòa mở cuộc chiến tranh biệt kích chống phá miền Bắc, bản thân Nguyễn Cao Kỳ từng đích thân lái máy bay chở biệt kích thả dù xuống tỉnh Sơn La, thâm nhập, phá hoại miền Bắc.
Khi Mỹ tiến hành các cuộc ném bom, bắn phá miền Bắc, Nguyễn Cao Kỳ, lúc đó là Chủ tịch Ủy ban hành pháp Trung ương, tức Thủ tướng Việt Nam Cộng hòa, đã đích thân lái máy bay ném bom miền Bắc tại khu vực tỉnh Quảng Bình, hành động táo tợn, liều lĩnh bay sát mặt sông Gianh và máy bay bị trúng đạn, nhưng vẫn hạ cánh được tại sân bay Đà Nẵng.
Khi quân và dân ta tiến hành cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân năm 1975, ông đã kêu gọi binh sĩ và dân cư miền Nam chống cự đến cùng, tuyên bố sẽ không bao giờ nhường bước cho phe cộng sản, thậm chí nói rằng “Sài Gòn sẽ trở thành Leningrad thứ hai” - một thành phố đã cầm cự, chiến đấu suốt 900 ngày chống Đức Quốc xã trong Thế chiến thứ hai.
“Tôi sẽ ở lại Sài Gòn và chiến đấu cho tới chết, những kẻ chạy theo Mỹ là hèn nhát” - Nguyễn Cao Kỳ phát biểu trước khoảng 6.000 người ủng hộ ông vào xế trưa ngày 25/4/1975.
Ngày 29/4/1975, sau khi nhận thấy tình hình không thể cứu vãn nổi, ông đã bí mật ra lệnh cho một trực thăng đến đón mình và bay ra hàng không mẫu hạm Midway để di tản ra ngoại quốc, bỏ lại sau lưng những lời thề hứa chiến đấu quyết tử mà ông từng hùng hồn tuyên bố trước đó 4 ngày.
Sài Gòn sụp đổ trong cuôc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân năm 1975, buộc phải chạy sang Mỹ, Nguyễn Cao Kỳ tiếp tục chỉ trích Nhà nước xã hội chủ nghĩa Việt Nam và phê bình chính sách của Mỹ đối với khu vực, cho rằng sự thừa nhận chính quyền Hà Nội là một sai lầm lớn về mặt chính trị và đạo đức.
Tại hải ngoại, ông từng tham gia vào các hoạt động cổ vũ việc Hoa Kỳ duy trì bao vây, cấm vận, cô lập Việt Nam trên trường quốc tế, bao gồm việc ủng hộ các nhóm chống đối chính quyền tại Việt Nam từ nước ngoài.
Thậm chí, ông còn bày tỏ quan điểm rằng Mỹ đã “bạc nhược” khi rút quân khỏi Việt Nam, coi sự kiện Mỹ rút quân là một hành động “mặc cả sau lưng chế độ Việt Nam Cộng hòa” và có thể là “thỏa thuận riêng với Bắc cộng”.
Nhiều người coi rằng những tuyên bố chống cộng của ông là một phần của chiến lược tuyên truyền của chính quyền Việt Nam Cộng hòa để củng cố sự ủng hộ nội bộ và thu hút sự giúp đỡ từ Mỹ và các nước phương Tây khác.

Nguyễn Cao Kỳ khi là Chủ tịch Ủy ban Hành pháp Trung ương (tức Thủ tướng Việt Nam Cộng hòa), tháng 6/1965 (Ảnh tư liệu)
…đến biểu tượng hòa hợp dân tộc
Hành trình của Nguyễn Cao Kỳ từ một nhân vật “chống cộng cực đoan”, “không đội trời chung với cộng sản” trở thành biểu tượng của sự hòa hợp dân tộc là một câu chuyện phức tạp và đầy biến động, đánh dấu sự thay đổi trong nhận thức và quan điểm của ông sau năm 1975.
Kể từ năm 2004, ông Nguyễn Cao Kỳ đã có bốn lần trở về thăm quê hương Việt Nam. Những lần trở về này được xem là một phần quan trọng trong quá trình chuyển mình của ông. Ông đã có những cuộc gặp gỡ với các lãnh đạo cấp cao của Việt Nam, thể hiện mong muốn hàn gắn và xây dựng tương lai chung.
Trong những lần tiếp xúc với báo chí và công chúng, ông đã có những chia sẻ đáng chú ý. Ông thừa nhận rằng chiến thắng của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa là “kết quả hiển nhiên của thực tế” và rằng đất nước đã thống nhất. Ông cũng bày tỏ sự tiếc nuối khi không thể thực hiện “Bắc tiến” để thống nhất đất nước như từng mong muốn, trong khi “những người miền Bắc đã làm được cuộc “Nam tiến” và thống nhất xứ sở”.
Sự hiện diện của ông tại Việt Nam, cùng với việc ông bày tỏ sự chấp nhận thực tế lịch sử và mong muốn đóng góp cho sự phát triển của đất nước, đã góp phần thúc đẩy tinh thần đoàn kết. Ông từng nói: “Riêng sự hiện diện của mình ở đây là một hành động rất rõ ràng”.
Quan điểm của ông thể hiện sự thay đổi so với quá khứ. Thay vì tiếp tục đấu tranh tư tưởng, ông đã chọn cách nhìn nhận lại lịch sử một cách khách quan hơn và ủng hộ chính sách hòa hợp dân tộc của Đảng và Nhà nước Việt Nam.
Sự thay đổi trong quan điểm của Nguyễn Cao Kỳ không chỉ là câu chuyện cá nhân mà còn phản ánh một xu hướng lớn hơn trong cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài, đó là sự chấp nhận thực tế lịch sử và hướng tới tương lai xây dựng đất nước.
Khi lần đầu tiên trở về Việt Nam sau 29 năm lưu vong ở nước ngoài vào tháng 7 năm 2004, Nguyễn Cao Kỳ đã phát biểu tại sân bay Tân Sơn Nhất với tông giọng trầm lắng và đầy cảm xúc: “Đây là một ngày rất đặc biệt, tôi đã mong chờ rất lâu. Tôi đến đây để tôn vinh đất nước, tôn vinh dân tộc Việt Nam, không phải để tranh cãi hay đổ lỗi về quá khứ”.
Ông đã nhấn mạnh tầm quan trọng của sự hòa hợp dân tộc, kêu gọi mọi người quên đi quá khứ và tập trung vào việc xây dựng đất nước. Ông cho rằng “sau 30 năm khi đất nước đã thống nhất, đây là lúc cần sự tập hợp của tất cả người Việt Nam trong và ngoài nước để phục hưng đất nước… Thế mà lại có những kẻ vẫn muốn quay về chuyện dĩ vãng. Chuyện không tưởng”.
Ông đã từ chối tham gia các hoạt động chống đối Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, khẳng định rằng mình đến Việt Nam để “tận hưởng cuộc sống yên tĩnh” và “thăm quê hương”. Ông cũng bày tỏ sự ngạc nhiên khi có người vẫn muốn “quay về chuyện dĩ vãng” thay vì tập trung vào tương lai.
Trong các phát biểu sau đó, ông đã chia sẻ về cảm xúc khi quay về Tổ quốc, nói rằng mình đã “thấy nhiều thay đổi” và “mọi người rất thân thiện”. Ông cũng cảm ơn chính phủ Việt Nam đã cho phép ông trở về quê hương tại Sơn Tây, nơi “chôn nhau cắt rốn” ông đã xa cách từ lâu.
Biết tin ông Nguyễn Cao Kỳ trở về Việt Nam, nhiều người đã chào đón ông tại sân bay Tân Sơn Nhất, kêu gọi sự hòa hợp dân tộc và đóng góp của người Việt ở nước ngoài cho sự phát triển của đất nước.

Ông Võ Văn Kiệt và Nguyễn Cao Kỳ gặp gỡ, nói về hòa hợp dân tộc khi ông Kỳ trở về Tổ quốc, tháng 01/2004 (Ảnh tư liệu)
Sự trở về của Nguyễn Cao Kỳ đã tạo ra một cú sốc lớn trong cộng đồng người Việt Nam, cả trong nước và ở nước ngoài. Ông đã mở ra một chương mới trong cuộc đời mình, từ một nhân vật chống cộng cực đoan trở thành một biểu tượng của sự hòa hợp dân tộc.
Khi bị các phần tử chống cộng ở hải ngoại chỉ trích là đã “phản bội lý tưởng tự do”, Nguyễn Cao Kỳ đã đưa ra những tuyên bố rõ ràng để giải thích và bảo vệ quan điểm của mình.
Ông thừa nhận có những người không đồng tình với các quyết định và hành động của mình, đặc biệt là những người vẫn còn gắn kết với chế độ Việt Nam Cộng hòa cũ. Ông cho rằng những người này vẫn giữ quan điểm cũ về cuộc chiến tranh và vẫn muốn quay lại quá khứ, thay vì chấp nhận thực tế lịch sử.
Ông khẳng định mình vẫn luôn trung thành với lý tưởng tự do và dân tộc Việt Nam, nhưng cho rằng thời đại đã thay đổi và đất nước cần sự hòa hợp để phát triển. Ông nói rằng mình không phản bội lý tưởng tự do, mà chỉ là thay đổi cách tiếp cận để đạt được mục tiêu chung. Ông tin rằng để phục hưng đất nước, cần có sự đóng góp của tất cả người Việt Nam, dù ở trong nước hay ở nước ngoài. Sau hơn 30 năm Việt Nam Cộng hòa sụp đổ là thời điểm cần sự đoàn kết, tập hợp mọi nguồn lực và trí tuệ của người Việt để xây dựng một quốc gia hùng mạnh.
Ông chỉ trích các phần tử chống cộng ở hải ngoại vẫn đang tiếp tục đấu tranh tư tưởng và phân chia dân tộc, thay vì hợp tác với chính phủ Việt Nam để xây dựng đất nước. Ông cho rằng những người này đang làm tổn hại đến lợi ích chung của dân tộc và cản trở sự phát triển của Việt Nam. Ông không đồng tình với những hành vi và thái độ của một số phần tử chống cộng ở hải ngoại vẫn tiếp tục gây chia rẽ và thù hận, coi đó là hành động đi ngược lại lợi ích chung của dân tộc.
Ông kêu gọi các phần tử chống cộng ở hải ngoại quên đi quá khứ và tham gia vào quá trình hòa hợp dân tộc, cho rằng đây là cách duy nhất để đất nước trở nên mạnh mẽ và thịnh vượng. Mọi người nên tập trung vào việc xây dựng tương lai thay vì kéo dài xung đột cũ.
Nói tóm lại, quan điểm hòa hợp dân tộc của ông Kỳ thể hiện sự chuyển mình từ một người từng giữ vai trò đối đầu sang một nhân vật kêu gọi sự đoàn kết, chấp nhận thực tế và mong muốn đóng góp cho sự phát triển của Việt Nam hiện tại. Ông coi sự hòa hợp dân tộc là chìa khóa để khép lại quá khứ đau thương và xây dựng một tương lai tốt đẹp hơn cho dân tộc.
Kết thúc bài này, chúng ta có thể nhắc đến câu nói nổi tiếng của ông khi trở về với đất nước, với dân tộc trong dịp kỷ niệm 30 năm chiến thắng 30/4/1975: “Tôi vẫn nói với anh em hải ngoại là tôi đã từng chiến đấu với họ và họ cũng như tôi đều mong muốn rằng có một cái chiến thắng cuối cùng để mà mình thống nhất được xứ sở chứ. Bởi vì đó là nhiệm vụ lịch sử của mỗi người công dân Việt cơ mà. Nhưng mà bây giờ, tôi và họ đã không làm được chuyện đó. Những người anh em ở phía bên kia đã làm được thì bây giờ mình phải chấp nhận đó là lịch sử. Và đất nước đã được thống nhất rồi. Thế còn ngoái cổ lại vẫn nói là phục quốc, phục quốc. Nước Việt Nam có mất cho Tây cho Tàu đâu mà phục quốc”[1].
Về chủ trương hòa hợp, hòa giải dân tộc của Đảng và Nhà nước Việt Nam, phát biểu trong dịp kỷ niệm 50 năm giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước, Tổng Bí thư Tô Lâm đã nhấn mạnh: “Chúng ta triển khai mạnh mẽ chính sách hòa hợp, hòa giải dân tộc với tinh thần chúng ta đều mang dòng máu Lạc Hồng, đều là anh em ruột thịt, như cây một cội, như con một nhà”[2]. Đây là tinh thần cốt lõi của chính sách hiện nay, nhằm đoàn kết sức mạnh dân tộc nhằm mục tiêu xây dựng nước Việt Nam hòa bình, giàu mạnh, văn minh và hạnh phúc.
Những người như ông Nguyễn Cao Kỳ, dù đã có một thời lầm đường lạc lối, nhưng cuối cùng đã nhận ra chính nghĩa và có những hành động đúng đắn, đóng góp thiết thực vào quá trình hòa hợp, hòa giải dân tộc Việt Nam theo chủ trương của Đảng và Nhà nước.
