Cùng với sự phát triển mạnh mẽ của công nghệ truyền thông và công nghiệp văn hóa, các giá trị văn hóa ngày càng được lan tỏa rộng rãi, đặc biệt trong giới trẻ. Bên cạnh những cơ hội tích cực trong giao lưu và tiếp biến văn hóa, không gian mạng cũng xuất hiện một số quan điểm phiến diện, thiếu thiện chí về việc bảo tồn bản sắc văn hóa các dân tộc thiểu số ở Việt Nam. Có ý kiến cho rằng trong thời đại hiện đại hóa và hội nhập quốc tế, việc duy trì các giá trị văn hóa truyền thống là không còn cần thiết. Những cách nhìn nhận này cần được xem xét thấu đáo, khách quan và toàn diện hơn.

Truyền dạy cồng chiêng cho thiếu nhi tại cộng đồng dân tộc thiểu số ở Tây Nguyên. Ảnh: Internet
Nhận diện một số quan niệm sai trái, phiến diện về bản sắc văn hóa các dân tộc thiểu số
Quan niệm cho rằng văn hóa truyền thống của đồng bào dân tộc thiểu số không còn phù hợp với đời sống hiện đại. Một biểu hiện rõ rệt từ quan niệm cho rằng đầu tư duy trì bản sắc văn hóa dân tộc thiểu số là vô nghĩa, chính là việc đánh đồng văn hóa truyền thống của đồng bào dân tộc thiểu số với sự lạc hậu, trì trệ và mê tín. Những nhìn nhận này thường chỉ tập trung vào những hạn chế còn tồn tại trong một vài tập tục như cưới hỏi sớm, các nghi lễ tín ngưỡng dân gian hoặc ngôn ngữ địa phương khó tiếp cận để từ đó đưa ra kết luận rằng toàn bộ hệ giá trị truyền thống của cộng đồng dân tộc thiểu số đều không còn phù hợp với xã hội hiện đại. Thậm chí có ý kiến cho rằng muốn phát triển thì cần loại bỏ hoàn toàn các thực hành văn hóa truyền thống, hay “người dân tộc thiểu số chỉ có thể theo kịp xã hội khi từ bỏ văn hóa riêng, sống giống như người Kinh”.
Những cách nhìn chưa đầy đủ về chính sách hỗ trợ văn hóa đối với đồng bào dân tộc thiểu số. Một số ý kiến đã nhìn nhận các chính sách hỗ trợ văn hóa – xã hội cho vùng đồng bào dân tộc thiểu số theo hướng tách rời bối cảnh lịch sử và điều kiện phát triển thực tế, rồi từ đó đưa ra các bình luận kiểu “Tại sao chỉ người dân tộc mới được miễn học phí, có đất sản xuất, có lớp dạy tiếng mẹ đẻ? Thế có công bằng với người Kinh không?” hay “Đã hội nhập thì phải bình đẳng, sao lại phân biệt vùng miền thế này?”.
Nhìn nhận chưa đầy đủ về vai trò của thế hệ trẻ trong gìn giữ bản sắc văn hóa. Từ thực tế một bộ phận thanh niên dân tộc thiểu số có xu hướng tiếp cận mạnh hơn với văn hóa hiện đại, có ý kiến vội vàng cho rằng giới trẻ đang xa rời truyền thống, để từ đó đưa ra kết luận rằng “Người trẻ đã không còn nhu cầu với văn hóa dân tộc mình thì nhà nước giữ gìn làm gì cho tốn kém", hoặc “Đầu tư bản sắc làm gì khi chính người dân tộc không muốn giữ nữa.”
Quan điểm cho rằng bản sắc văn hóa không cần được bảo vệ bằng pháp luật. Một cách tiếp cận thiếu toàn diện khác cho rằng bản sắc văn hóa chỉ là một giá trị đạo đức hoặc truyền thống tùy nghi, không phải là quyền con người chính thức, do đó, nhà nước không cần phải đầu tư nguồn lực hay xây dựng cơ chế pháp lý bảo vệ. Luận điểm này thường xuất hiện trong các phát ngôn, bài viết hoặc bình luận mang tính chất hoài nghi, với giọng điệu kiểu “Văn hóa là của cộng đồng, ai muốn giữ thì giữ, đâu cần nhà nước can thiệp hay rót tiền”, hay “Tự do văn hóa là chuyện cá nhân, không thể luật hóa được”.
Khẳng định giá trị và ý nghĩa của việc bảo tồn bản sắc văn hóa dân tộc thiểu số
Thứ nhất, bản sắc văn hóa là một quyền cơ bản, không phụ thuộc vào thị hiếu hay mức độ thể hiện nhất thời của cá nhân nào. Trong hệ thống quyền con người hiện đại, quyền văn hóa được công nhận là một quyền nền tảng, không thể bị loại bỏ vì lý do tiện lợi, hiệu quả kinh tế hay biến động xã hội tạm thời, được thể hiện qua nhiều văn kiện pháp lý quốc tế như: Điều 27 Tuyên ngôn Quốc tế về Quyền con người 1948 khẳng định: “Mọi người đều có quyền tự do tham gia vào đời sống văn hóa của cộng đồng, được thưởng thức nghệ thuật và chia sẻ những tiến bộ khoa học cũng như những lợi ích xuất phát từ những tiến bộ khoa học”. Điều 15 Công ước Quốc tế về các Quyền Kinh tế, Xã hội và Văn hóa (ICESCR) quy định: “Các quốc gia thành viên Công ước thừa nhận mọi người đều có quyền được tham gia vào đời sống văn hóa…” và “các biện pháp mà quốc gia thành viên Công ước sẽ tiến hành nhằm thực hiện đầy đủ quyền này phải bao gồm các biện pháp cần thiết để bảo tồn, phát triển và phổ biến khoa học và văn hóa”. Công ước về Quyền trẻ em CRC quy định trẻ em thuộc nhóm thiểu số “không bị khước từ quyền được hưởng nền văn hóa của mình” và đặc biệt nhấn mạnh nghĩa vụ Nhà nước phải “Cân nhắc thích đáng đến tầm quan trọng của các truyền thống và giá trị văn hóa của mỗi dân tộc nhằm thúc đẩy sự bảo vệ và phát triển hài hòa của trẻ em”.
Trên phương diện quốc gia, Điều 5 Hiến pháp 2013 khẳng định: “Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là quốc gia thống nhất của các dân tộc cùng sinh sống trên đất nước Việt Nam” và “Các dân tộc có quyền dùng tiếng nói, chữ viết, giữ gìn bản sắc dân tộc, phát huy phong tục, tập quán, truyền thống và văn hóa tốt đẹp của mình”. Khoản 1 Điều 60 quy định: “Nhà nước, xã hội chăm lo xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại”. Ngoài ra, Khoản 2 Điều 18 Luật Trẻ em năm 2016 cũng ghi nhận: “Trẻ em có quyền dùng tiếng nói, chữ viết, giữ gìn bản sắc, phát huy truyền thống văn hóa, phong tục, tập quán tốt đẹp của dân tộc mình”.
Từ các cơ sở pháp lý quốc tế và trong nước có thể thấy, bản sắc văn hóa của dân tộc nói chung, dân tộc thiểu số nói riêng phải được xem xét dưới khía cạnh là quyền, không phải đặc ân. Nó không thể bị đo lường bằng tần suất sử dụng hay đánh giá bằng tính kinh tế. Phủ nhận quyền này vì lý do “thiếu quan tâm” là một hành động sai lệch về cả lý luận, đạo lý và pháp luật. Việc duy trì, bảo vệ và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc thiểu số không phải là “ưu đãi” hay “sáng kiến xã hội”, mà là một phần nghĩa vụ pháp lý của Nhà nước theo cả luật quốc tế và hiến định quốc gia. Luận điểm sai trái phủ định nhu cầu đầu tư văn hóa chỉ vì giới trẻ chưa mặn mà chính là vi phạm trực tiếp nghĩa vụ bảo đảm quyền của nhóm yếu thế.
Thứ hai, chính sách và thực tiễn triển khai ở Việt Nam chứng minh rằng đầu tư đúng cho bản sắc văn hóa dân tộc thiểu số tạo ra giá trị phát triển bền vững và gắn kết xã hội mạnh mẽ. Trong suốt quá trình phát triển đất nước, Đảng và Nhà nước Việt Nam luôn xác định rõ chủ trương ưu tiên phát triển toàn diện vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, trong đó bảo tồn và phát huy bản sắc văn hóa là một trụ cột chiến lược. Nghị quyết số 80-NQ/TW của Bộ Chính trị về phát triển văn hóa Việt Nam xác định quan điểm “phát triển văn hoá ngang tầm với chính trị, kinh tế, xã hội”, từ đó Đảng ta đề ra giải pháp “chú trọng bảo tồn và phát huy các giá trị truyền thống, bản sắc văn hoá tốt đẹp của các dân tộc thiểu số”. Các chủ trương lớn này đã được cụ thể hóa thông qua nhiều chính sách pháp luật, văn bản điều hành, và chương trình phối hợp đa ngành do Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch chủ trì hoặc đồng thực hiện.
Theo quan điểm của Đảng và Nhà nước ta, những chính sách văn hóa hướng đến đồng bào dân tộc thiểu số không phải là đặc quyền, mà là nền tảng để thiết lập công bằng thực chất - nơi mà mỗi dân tộc đều có không gian để tồn tại, phát triển và đóng góp cho cộng đồng chung. Các văn bản chính sách không chỉ dừng lại ở giá trị bảo tồn mà mở rộng chức năng văn hóa thành động lực kinh tế, góp phần giảm nghèo đa chiều, giữ người trẻ ở lại quê hương và làm giàu bằng chính bản sắc của mình. Đây là minh chứng rõ nét cho mối quan hệ hai chiều giữa văn hóa và phát triển bền vững.
Thứ ba, thanh thiếu niên dân tộc thiểu số không thờ ơ mà chính họ là chủ thể năng động trong bảo tồn bản sắc văn hóa. Thanh thiếu niên dân tộc thiểu số ngày càng thể hiện vai trò chủ động trong việc bảo vệ và phát huy bản sắc văn hóa, thông qua nhiều hình thức đa dạng, sáng tạo và phù hợp với thời đại số. Ở nhiều địa phương, học sinh dân tộc thiểu số tích cực tham gia các chương trình truyền dạy tiếng mẹ đẻ, lễ hội văn hóa học đường, trình diễn dân ca – dân vũ trong các ngày hội giao lưu văn hóa dân tộc. Những phong trào như “Em yêu tiếng nói dân tộc mình”, “Trường học xanh - bản sắc sáng” tại một số địa phương, hay hình thành đội cồng chiêng thanh niên, thiếu nhi như ở Chư Păh, Kong Chro - Gia Lai… đã tạo không gian để giới trẻ vừa học, vừa gìn giữ và truyền cảm hứng văn hóa cho cộng đồng. Điều đó càng khẳng định họ không thờ ơ với di sản, mà đang tìm những cách thể hiện mới, phù hợp với thời đại số.
Bản sắc văn hóa của các dân tộc thiểu số không chỉ là di sản của mỗi cộng đồng mà còn là một phần không thể tách rời trong bản sắc văn hóa Việt Nam thống nhất trong đa dạng. Trong bối cảnh hội nhập và chuyển đổi số hiện nay, việc bảo tồn và phát huy các giá trị ấy cần được nhìn nhận như một yêu cầu phát triển bền vững, góp phần củng cố sự gắn kết xã hội, nuôi dưỡng bản lĩnh văn hóa dân tộc và làm giàu thêm sức mạnh mềm của đất nước.
Tài liệu tham khảo
1. Nghị quyết số 203/2025/QH15 ngày 16 tháng 6 năm 2025 của Quốc hội sửa đổi, bổ sung một số điều của Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
2. Nghị quyết số 80-NQ/TW ngày 07/01/2026 của Bộ Chính trị về phát triển văn hóa Việt Nam.
