Sau 30 năm rời xa Tổ quốc ra đi tìm đường cứu nước, ngày 28/01/1941, Nguyễn Ái Quốc về nước trực tiếp lãnh đạo cách mạng Việt Nam. Chỉ chưa đầy bốn tháng sau đó, Người chủ trì Hội nghị lần thứ tám Ban Chấp hành Trung ương (5/1941). Hội nghị quyết định “thay đổi chiến lược”, điều này có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, góp phần quyết định đưa tới thắng lợi của Cách mạng tháng Tám năm 1945

Ngày 01/9/1939, phát xít Đức mở cuộc tấn công xâm lược Ba Lan. Ngày 03/9/1939, sau khi đòi Đức rút quân khỏi lãnh thổ Ba Lan mà không được chấp nhận, Anh, Pháp cùng với Australia, New Zeland, Ấn Độ tuyên chiến với Đức. Cuộc chiến tranh thế giới thứ hai chính thức bùng nổ.

Giữa lúc thời cuộc thế giới và Đông Dương tiếp tục chuyển biến lớn, phong trào đấu tranh của nhân dân ta đang có bước chuyển theo phương hướng mới thì Nguyễn Ái Quốc cũng gấp rút trở về nước.

Đầu năm 1941, Người về nước. Tháng 5/1941, Người triệu tập và chủ trì Hội nghị lần thứ tám Ban Chấp hành Trung ương. Đường lối cách mạng được đề ra tại Hội nghị đã mở đường cho dân tộc ta tiến lên hoàn thành nhiệm vụ giải phóng dân tộc.

Nguyễn Ái Quốc đã chuẩn bị cho Hội nghị từ khi còn ở Tĩnh Tây, Trung Quốc

Tháng 6/1938, trước tình hình thế giới diễn biến nhanh chóng, Nguyễn Ái Quốc viết thư gửi một đồng chí trong Ban Chấp hành Quốc tế Cộng sản. Sau đó, Nguyễn Ái Quốc rời Liên Xô về nước.

Đầu năm 1940, Nguyễn Ái Quốc đến Côn Minh, (Trung Quốc). Tại đây, Nguyễn Ái Quốc tìm cách bắt liên lạc với các đảng viên Đảng Cộng sản Đông Dương, chuẩn bị về nước họat động.

Tháng 6/1940, sau khi nghe tin Paris thất thủ, Pháp đầu hàng Đức, Người nhận định: “Việc Pháp mất nước là một cơ hội rất thuận lợi cho cách mạng Việt Nam, ta phải tìm mọi cách về nước ngay để tranh thủ thời cơ. Chậm trễ lúc này là có tội với cách mạng”[1].

Trước tình hình đó, tháng 7/1940, Người viết báo cáo của Việt Nam gửi Quốc tế Cộng sản, trong đó nêu rõ: “Những điều kiện khách quan cho phép chúng tôi có hy vọng thành công”[2].

Báo cáo khẳng định Đảng sẽ hoàn thành sứ mạng lịch sử nếu có căn cứ, cơ sở để được tự do hành động ở biên giới, một ít súng đạn, chút kinh phí và vài vị cố vấn, với những điều kiện đó, Việt Nam có thể lập ra và phát triển một căn cứ địa chống Pháp, chống Nhật. Trong báo cáo, Nguyễn Ái Quốc đề nghị “Tôi rất hy vọng các đồng chí giúp tôi nhanh chóng giải quyết vấn đề này”[3].

Tháng 10/1940, Nguyễn Ái Quốc mở một lớp huấn luyện cho hơn 40 thanh niên từ Cao Bằng sang Quảng Tây (Trung Quốc). Sau lớp huấn luyện, những thanh niên đó được đưa trở về nhằm củng cố và phát triển phong trào ở Cao Bằng, đồng thời tìm hiểu địa bàn, dân cư để tổ chức đường liên lạc từ Trung Quốc về Việt Nam an toàn, thuận lợi. Mặt khác Cao Bằng có vị trí địa lý thuận lợi cho việc tiến lui.

Từ những cơ sở đó, Cao Bằng được Người chọn để xây dựng căn cứ địa cách mạng. Đầu tháng 01/1941, tại Tĩnh Tây, Nguyễn Ái Quốc gặp và chỉ thị cho đồng chí Hoàng Văn Thụ chuẩn bị các điều kiện tổ chức hội nghị của Đảng.

Hang Cốc Bó, nơi lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc chọn làm địa điểm trú ngụ từ ngày 08/02/1941 sau khi về nước hoạt động cách mạng 

Người trực tiếp góp ý dự thảo văn kiện và chủ trì Hội nghị

Từ ngày 10 đến ngày 19/5/1941, Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương được tổ chức tại Khuổi Nậm (Trường Hà, Hà Quảng, Cao Bằng). Dự Hội nghị có các Nguyễn Ái Quốc, Trường Chinh, Hạ Bá Cang, Hoàng Văn Thụ, Vũ Anh, Bùi San, Hồ Xuân Lưu, Phùng Chí Kiên... Đồng chí Nguyễn Ái Quốc tham dự với tư cách là đại diện Quốc tế Cộng sản và chủ trì Hội nghị [4].

Hội nghị phân tích tình hình thế giới từ nguồn gốc, đặc điểm, tính chất của cuộc chiến tranh thế giới lần thứ hai, từ đó, Hội nghị dự đoán rằng: "Cuộc đế quốc chiến tranh lần này sẽ đẻ ra nhiều nước xã hội chủ nghĩa, sẽ do đó mà cách mạng nhiều nước thành công"[5].

Đây là nhận định xu hướng phát triển của thế giới có ý nghĩa vô cùng quan trọng, để từ đó cách mạng Việt Nam kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội.

Hội nghị quyết định “thay đổi chiến lược”. Từ đó, Hội nghị khẳng định: " cuộc cách mạng chỉ phải giải quyết một vấn đề cần kíp "dân tộc giải phóng"[6].

Hội nghị còn chỉ ra yếu tố thời cơ quốc tế như: quân Trung Quốc đại thắng quân Nhật, Cách mạng Pháp hay Cách mạng Nhật nổi dậy, phe dân chủ đại thắng ở Thái Bình Dương, Liên Xô đại thắng, cách mạng các thuộc địa Pháp, Nhật sôi nổi và nhất là quân Tàu hay quân Anh - Mỹ tràn vào Đông Dương[7].

Những nội dung của Hội nghị đã hoàn chỉnh đường lối cách mạng giải phóng dân tộc, là cơ sở quan trọng để Đảng xây dựng và phát triển Mặt trận Việt Minh, mở rộng căn cứ địa cách mạng và xây dựng lực lượng vũ trang, tích cực chuẩn bị đón thời cơ khởi nghĩa.

Văn kiện Hội nghị Trung ương 8 được hoàn thiện là có sự đóng góp ý kiến của Bác. Theo hồi ký của đồng chí Hoàng Quốc Việt: “Khi anh Trường Chinh trình bày với Bác dự thảo báo cáo mà anh sẽ trình bày tại Hội nghị Trung ương. Bác khen viết như vậy là có hệ thống, vạch ra được những phương hướng cơ bản của đường lối cách mạng. Nhưng Bác phê bình còn viết dài, theo Bác viết ngắn thì quần chúng dễ đọc, dễ nhớ. Bản báo cáo đó có nhiều chỗ Bác gạch đỏ”[8].

Người chuẩn bị và đề xuất thành lập mặt trận Việt Minh

Khi còn ở Tĩnh Tây, Nguyễn Ái Quốc cũng trù định thành lập mặt trận dân tộc thống nhất rộng rãi đoàn kết toàn dân vào mục tiêu cứu quốc. Người nói: “Trước tình hình mới, vấn đề đoàn kết toàn dân giải phóng dân tộc càng quan trọng. Ta phải nghĩ đến việc lập một hình thức mặt trận thật rộng rãi, có tên gọi cho thích hợp. Việt Nam giải phóng đồng minh? hay là Việt Nam độc lập đồng minh, có thể gọi tắt là Việt Minh cho nhân dân dễ nhớ”[9].

Trước khi về nước, Người tiến hành huấn luyện cán bộ Việt Minh cho hơn 40 thanh niên Cao Bằng tại làng Nậm Quang (Tĩnh Tây, Quảng Tây, Trung Quốc).

Sau khi về nước, Người đặt cơ quan tại làng Pắc Bó, xã Trường Hà, huyện Hà Quảng, tỉnh Cao Bằng; trực tiếp chỉ đạo công tác thí điểm xây dựng Mặt trận Việt Minh, nhằm tập hợp đông đảo các tầng lớp nhân dân vào hàng ngũ các đoàn thể cứu quốc.

Dưới sự chỉ đạo của Nguyễn Ái Quốc, công tác thí điểm Mặt trận Việt Minh được nhanh chóng triển khai ở 3 châu: Hoà An, Hà Quảng, Nguyên Bình. Chỉ trong vòng 3 tháng, từ tháng 2 đến tháng 4/1941, có 2.000 người tham gia các đoàn thể Thanh niên cứu quốc, Phụ nữ cứu quốc, Nông dân cứu quốc, Nhi đồng cứu quốc. Trước sự lớn mạnh của các đoàn thể cứu quốc ở các châu thí điểm, theo chỉ thị của Nguyễn Ái Quốc, Hội nghị cán bộ Cao Bằng được tổ chức rút kinh nghiệm về tổ chức Mặt trận Việt Minh. Hội nghị đánh giá công tác xây dựng thí điểm các đoàn thể cứu quốc có sức thu hút to lớn đối với quần chúng, vai trò của Mặt trận Việt Minh dần được khẳng định qua vai trò, đóng góp đối với phong trào cách mạng ở Cao Bằng thông qua lớp huấn luyện cán bộ Việt Minh.

Suối Lênin trong khu Di tích lịc sử quốc gia đặc biệt Pác Bó 

Từ thành công của công tác thí điểm đó, Việt Minh đã xây dựng một hệ thống tổ chức sâu rộng, chặt chẽ từ Trung ương đến địa phương nhưng cũng rất linh hoạt để ai cũng có thể tham gia vào Mặt trận.

Hội nghị chủ trương giải quyết vấn đề dân tộc trong khuôn khổ từng nước. Ở Việt Nam, theo đề nghị của đồng chí Nguyễn Ái Quốc, Hội nghị quyết định lập Mặt trận Việt Nam độc lập đồng minh (gọi tắt là Việt Minh), lấy cờ đỏ có ngôi sao vàng năm cánh ở giữa làm biểu tượng. Các đoàn thể quần chúng lấy tên là "hội cứu quốc" như Công nhân cứu quốc hội, Nông dân cứu quốc hội, Việt Nam Thanh niên cứu quốc đoàn, Phụ nữ cứu quốc hội, Phụ lão cứu quốc hội, ... Hội nghị cũng chủ trương thành lập Cao Miên độc lập đồng minh và Ai Lao độc lập đồng minh ở hai nước Lào và Campuchia.

Tại Hội nghị, mặt trận dân tộc thống nhất lấy tên như thế nào là vấn đề được nhiều người thảo luận nhất. Đồng chí Hoàng Quốc Việt đã kể lại: “Cuối cùng, Bác nêu ý kiến: “Lúc này chúng ta phải mở rộng khối đoàn kết, phải tìm bạn đồng minh cần thiết và ta có thể cô lập những người có thể không hợp với mình. Các chú phải chú ý chính sách mặt trận của ta. Tôi đề nghị lấy tên là Việt Nam độc lập đồng mình, gọi tắt là Việt Minh[10].

Ngay tại cuộc họp, Bác soạn thảo 10 chính sách lớn của Việt Minh [11]. Những vấn đề lớn bao gồm tất cả các lĩnh vực từ chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội và đối ngoại. Chương trình cứu nước gồm 10 chính sách lớn của Việt Minh đã đáp ứng nguyện vọng bức thiết của mọi giai tầng xã hội, được nhân dân nhiệt liệt hoan nghênh và đi theo, tạo nên một sức mạnh đoàn kết vô song trong cuộc đấu tranh giành độc lập dân tộc.

Nguyễn Ái Quốc chú trọng xây dựng và bảo toàn đội ngũ cán bộ

Hội nghị Trung ương 8 (5/1941) cử Ban Chấp hành Trung ương chính thức. Đồng chí Trường Chinh được bầu làm Tổng Bí thư.

Trong Hội nghị, các đồng chí đề nghị Bác tham gia Ban Chấp hành Trung ương, giữ chức vụ cao nhất trong Đảng – Tổng Bí thư, Nguyễn Ái Quốc khiêm tốn từ chối đề nghị đó[12].

Bác nói: “Tôi đang làm nhiệm vụ do Quốc tế Cộng sản giao cho. Quốc tế Cộng sản có thể điều động tôi đi làm nhiệm vụ ở nơi khác. Do đó, tôi không thể làm nhiệm vụ Tổng Bí thư của Đảng ta được. Bác giới thiệu đồng chí Trường Chinh làm Tổng Bí thư”[13].

Ngoài ra, Bác còn quan tâm bảo đảm an toàn cho các đại biểu dự Hội nghị. Điều đó cũng thể hiện rõ quan điểm của Bác xây dựng đội ngũ cán bộ cho cách mạng.

Tại Hội nghị Trung ương 8 (5/1941), điều đó được thể hiện, khi các đại biểu ra về, lúc tiễn Bác nhắc không ai được mang tài liệu, tài liệu hội nghị sẽ có giao liên chuyển đến sau. Các đồng chí Xứ ủy Trung Kỳ giấu tài liệu hội nghị trong viền áo. Bác đề nghị bỏ lại hết. Bác nói: “Các đồng chí không được mang tài liệu theo người. Địch nó bắt được các đồng chí không chỉ thiệt cho mình.... Nhân dân tốn bao công sức mới gây dựng được các đồng chí nên người. Phong trào bây giờ những người như các đồng chí, nhỡ có thế nào không phải ngày một ngày hai mà thay ngay được”[14].

Hội nghị Trung ương 8 (5/1941) do Nguyễn Ái Quốc chủ trì có vai trò và ý nghĩa hết sức quan trọng, Hội nghị đã quyết định “thay đổi chiến lược”, hoàn chỉnh đường lối cách mạng giải phóng dân tộc. Đường lối của Hội nghị là đúng đắn, sáng tạo, kịp thời, thể hiện tư duy độc lập, tự chủ trong hoạch định đường lối cách mạng đưa đến thắng lợi của Cách mạng tháng Tám năm 1945. Hiện thực hoá tư tưởng cách mạng được Nguyễn Ái Quốc nêu ra trong tác phầm “Đường kách mệnh” (1927) và Cương lĩnh chính trị đầu tiên được thông qua tại Hội nghị thành lập Đảng đầu năm 1930.

 

[1] Vũ Anh: Những ngày gần Bác, trong cuốn Bác Hồ về nước, Hội Văn học Nghệ thuật Cao Bằng 1986, tr 15; Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia - Sự thật, Hà Nội, 2011, t.3, tr. 12.

[2] Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, 3 tr.204

[3] Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, 3 tr.174.

[4] William J. Duiker”: Hồ Chí Minh, Heperion, New York 2000, Bản dịch của Bộ Ngoại giao 5/2001, trang 171; Lady Borton, Hồ Chí Minh một hành trình, Hà Nội 2012, tr. 74.

[5] Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội 2000, t. 7, tr.100.

[6] Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Sđd, 7, tr 119

[7] Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Sđd, t. 7, tr 129-130.

[8] Hoàng Quốc Việt: Con đường theo Bác, Nxb. Thanh niên, Hà Nội, 1990, tr. 34

[9] Đầu nguồn (Hồi ký về Bác Hồ), Nxb. Văn học, Hà Nội, 1975, tr.47

[10] Hoàng Quốc Việt: Con đường theo Bác, Sđd, tr. 37

[11] Hoàng Quốc Việt: Chặng đường nóng bỏng, Nxb. Lao Động, Hà Nội, 1985, tr. 211

[12] William J. Duiker: Hồ Chí Minh, Heperion, Sđd, tr.173.

[13] Hoàng Quốc Việt: Con đường theo Bác, Sđd, tr. 35

[14] Hoàng Quốc Việt, Chặng đường nóng bỏng, Sđd, tr. 213