Quá trình đổi tên từ Sài Gòn thành Thành phố Hồ Chí Minh là một hành trình lịch sử dài 30 năm (1946-1976), khởi nguồn từ ý nguyện của người dân miền Nam yêu nước và được quyết định bằng quyết nghị tối cao của Quốc hội nước Việt Nam thống nhất năm 1976
Ý tưởng ban đầu
Ý tưởng đổi tên Sài Gòn Thành thành phố Hồ Chí Minh đã xuất hiện từ rất sớm, ngay trong những năm đầu của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp chứ không phải sau năm 1975.
Ngày 25/8/1946, nhân chuẩn bị kỷ niệm một năm Nam Bộ kháng chiến, Phòng Nam Bộ Trung ương ở Hà Nội đã tổ chức một cuộc họp với sự tham gia của nhiều nhân sĩ, trí thức yêu nước.
Tại cuộc họp, Bác sĩ Trần Hữu Nghiệp, một trí thức yêu nước Nam Bộ tiêu biểu, đã đề nghị đổi tên thành phố Sài Gòn thành thành phố Hồ Chí Minh để ghi nhận công đức vĩ đại của Chủ tịch Hồ Chí Minh.
Ngày 26/8/1946, một bản quyết nghị gửi lên Quốc hội và Chính phủ đã được soạn thảo có tên gọi “Bản Quyết nghị gửi Quốc hội và Chính phủ Trung ương” với nội dung đề nghị Quốc hội và Chính phủ đổi tên thành phố Sài Gòn thành tên Thành phố Hồ Chí Minh để ghi nhận quân và dân Nam Bộ đã anh dũng, hy sinh mở đầu cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và tình cảm đặc biệt với Chủ tịch Hồ Chí Minh kính yêu.
Bạn quyết nghị này có chữ ký của 57 nhân sĩ, trí thức Nam Bộ đứng đầu là bác sĩ Trần Hữu Nghiệp cùng các tên tuổi khác như luật sư Trần Công Tường, bác sĩ Nguyễn Tấn Gi Trọng...
Nội dung bản quyết nghị như sau:
“26 tháng 8 Dân chủ Cộng hòa năm II
Bản quyết nghị gửi Quốc hội và Chính phủ Trung ương.
Toàn thể đồng bào Nam Bộ, đủ các đảng phái, giai cấp, họp mặt tại Hà Nội hôm nay 25 tháng 8, năm thứ hai của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa để kỷ niệm ngày Nam Bộ khởi nghĩa”[1].
Xin Quốc hội và Chính phủ Trung ương đổi ngay tên thành phố Sài Gòn lại làm tên thành phố Hồ Chí Minh để tượng trưng sự chiến đấu hi sinh và cương quyết trở về với Tổ quốc của dân Nam Bộ”.
Ký tên 57 người.
Trần Hữu Nghiệp
Trần Công Tường
Nguyễn Tấn Gi Trọng
Hoàng Quang Hương
Vũ Kim Vinh
Lê Văn Ngươn
Tôn Đức Thắng
Bản quyết nghị mang chữ ký của 57 người này chính là “viên gạch” đầu tiên, khởi đầu cho hành trình lịch sử kéo dài đúng 30 năm trước khi Sài Gòn chính thức được mang tên Thành phố Hồ Chí Minh vào ngày 02/7/1976.

Trang nhất báo Cứu Quốc, ngày 27/8/1946 (Ảnh tư liệu)
Sự ghi nhận của báo chí, tài liệu
Ngày 27/8/1946, báo Cứu quốc, cơ quan ngôn luận của Việt Minh đã chạy tít lớn ngay trang nhất: “Thành phố Sài Gòn từ nay sẽ đổi tên là Thành phố Hồ Chí Minh”.
Năm 1950, tại Hà Nội xuất hiện một tập sách ghi nhận tên gọi “Thành phố Hồ Chí Minh”. Đó là tập sách có tên “23 tháng 9”, xuất bản vào năm 1950 trên giấy rơm, gồm 35 trang khổ nhỏ (12x17cm). Sách này không có tên tác giả, chỉ đề “Việt Nam Thông tấn phát hành, 1950”, từng được lưu giữ tại Thư viện “Khu Tự trị Thái Mèo”.
Nội dung sách ôn lại 5 năm kể từ ngày Nam Bộ kháng chiến (23/9/1945) đến năm 1950. Ngay trong trang đầu, sách viết: “Hôm nay, cách đây đúng năm năm, cuộc kháng chiến của dân tộc Việt Nam bắt đầu. Bắt đầu ở Nam Bộ, phần đất xinh tươi của Tổ quốc mà Cụ Chủ tịch đã gọi là “thịt của thịt chúng ta, máu của máu chúng ta”.
Bắt đầu ở Sài Gòn - Chợ Lớn, đô thành lớn nhất ở Việt Nam mà đồng bào Nam Bộ đã xin cải tên lại là “Thành phố Hồ Chí Minh” vừa để cảm ơn người chí sĩ đã sáng lập nền dân chủ cộng hòa, vừa để tiêu biểu ý chí quật cường, lòng dạ quyết thắng của bao triệu dân theo gót vị anh hùng dân tộc”.
Trong câu đề cập đến địa danh Sài Gòn - Chợ Lớn, sách này nêu chi tiết quan trọng “đồng bào Nam bộ đã xin cải tên lại là “thành phố Hồ Chí Minh”.
Trên phương diện xuất bản, tác phẩm “23 tháng 9” in năm 1950 là tập sách sớm nhất được ấn hành chính thức có ghi nhận trường hợp Sài Gòn được đề nghị “cải tên” là Thành phố Hồ Chí Minh.
Danh xưng đi vào lòng dân và thơ ca trong những năm 1950-1975
Dù đề nghị của đồng bào Nam Bộ chưa được chính thức hóa về mặt hành chính do hoàn cảnh chiến tranh ác liệt, rồi sau đó là đất nước chia cắt, danh xưng thành phố Hồ Chí Minh đã đi sâu vào đời sống tinh thần và niềm tin thống nhất của nhân dân hai miền Nam - Bắc.
Trong văn thơ và âm nhạc, năm 1954 nhà thơ Tố Hữu đã đưa danh xưng này vào bài thơ nổi tiếng Ta đi tới. Lúc đó, Hiệp định Geneva mở ra cơ hội thống nhất đất nước sau 9 năm kháng chiến chống thực dân Pháp. Theo Hiệp định, tháng 7/1956, nhân dân hai miền sẽ tổ chức tổng tuyển cử thống nhất đất nước. Mong ước đổi tên Sài Gòn- Chợ Lớn thành Thành phố Hồ Chí Minh đến gần hơn bao giờ hết. Bởi vậy, lời thơ Tố Hữu tràn đầy sự hào sảng, mừng vui:
“Ai đi Nam Bộ
Tiền Giang, Hậu Giang
Ai vô thành phố
Hồ Chí Minh
Rực rỡ tên vàng.
Ai về thăm bưng biền Đồng Tháp
Việt Bắc miền Nam, mồ ma giặc Pháp
Nơi chôn rau cắt rốn của ta!
Ai đi Nam - Ngãi, Bình Phú, Khánh Hoà
Ai vô Phan Rang, Phan Thiết
Ai lên Tây Nguyên, Kông Tum, Đắk Lắk
Khu Năm dằng dặc khúc ruột miền Trung
Ai về với quê hương ta tha thiết
Sông Hương, Bến Hải, Cửa Tùng...”
Nhưng Hiệp định Geneva bị phá hoại, đất nước chia cắt thêm 20 năm, ước vọng của đồng bào miền Nam, của nhân dân Sài Gòn – Chợ Lớn lại một lần nữa dang dở.
Chuyến thăm miền Bắc của bác sĩ Phùng Văn Cung, cái tên Thành phố Hồ Chí Minh một lần nữa được nhắc lại
Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước ác liệt, dù ngày thắng lợi còn xa, nhân dân miền Nam vẫn đau đáu với tên gọi Thành phố Hồ Chí Minh.
Cuối tháng 2, đầu tháng 3/1969, sự kiện bác sĩ Phùng Văn Cung dẫn đầu Phái đoàn đại biểu Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam ra thăm miền Bắc là một mốc son lịch sử cảm động. Chuyến đi này không chỉ thắt chặt tình đoàn kết Nam - Bắc mà còn gắn liền với những câu chuyện thiêng liêng về tình cảm của đồng bào miền Nam dành cho Chủ tịch Hồ Chí Minh, trong đó có khát vọng về ngày thống nhất và danh xưng “Thành phố Hồ Chí Minh”
Sau thắng lợi của cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968, cục diện chiến trường miền Nam có những bước chuyển biến mạnh mẽ. Để báo cáo với Trung ương Đảng, Bộ Chính trị và Bác Hồ về sự trưởng thành của cách mạng miền Nam, đồng thời chuyển tình cảm ruột thịt của đồng bào, chiến sĩ miền Nam tới miền Bắc, một phái đoàn đặc biệt đã được thành lập.
Người dẫn đầu: Bác sĩ Phùng Văn Cung (lúc bấy giờ là Phó Chủ tịch Ủy ban Trung ương Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam) vinh dự được cử làm Trưởng đoàn. Chuyến đi được thực hiện bằng con đường bí mật đặc biệt để ra đến Hà Nội.
Khi đặt chân ra miền Bắc, mong muốn lớn nhất của bác sĩ Phùng Văn Cung cũng như toàn bộ thành viên trong đoàn là được gặp Chủ tịch Hồ Chí Minh.
Đầu tháng 3/1969, Bác Hồ đã thân mật tiếp đón bác sĩ Phùng Văn Cung cùng phái đoàn miền Nam. Bức ảnh Bác Hồ ôm hôn thắm thiết bác sĩ Phùng Văn Cung đã trở thành biểu tượng thiêng liêng cho tình cảm ruột thịt “Nam Bắc một nhà”.
Trong cuộc trò chuyện, bác sĩ Phùng Văn Cung đã xúc động bày tỏ lòng kính yêu vô hạn của đồng bào miền Nam và báo cáo với Bác rằng: Nhân dân miền Nam nói chung và nhân dân Sài Gòn nói riêng luôn mong mỏi ngày đất nước sạch bóng quân thù để được đón Bác vào thăm.
Từ đề xuất đổi tên Sài Gòn thành “Thành phố Hồ Chí Minh” của các nhân sĩ, trí thức miền Nam từ năm 1946, người dân miền Nam vẫn luôn giữ vững niềm tin sắt đá đó. Bác sĩ Phùng Văn Cung nói rằng, nhân dân miền Nam, nhân dân Sài Gòn- Chợ Lớn luôn mong muốn được đón Bác vào thăm thành phố mang tên Người. Việc nhắc đến danh xưng “Thành phố Hồ Chí Minh” trong giai đoạn này (trước khi Bác mất vào tháng 9/1969) vừa là lời hứa quyết tâm chiến đấu giải phóng quê hương, vừa là khát vọng cháy bỏng của đồng bào miền Nam gửi gắm tới Người.
Bác Hồ đã vô cùng xúc động trước tấm lòng của đoàn. Người nói rằng miền Nam luôn ở trong trái tim Người và Người vẫn hằng mong muốn được vào Nam gặp gỡ đồng bào ngay khi chiến tranh kết thúc.
Chuyến thăm của bác sĩ Phùng Văn Cung năm 1969 là một trong những cơ sở củng cố ý chí sắt đá của cả dân tộc. Dù sau đó vài tháng, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã vĩnh viễn đi xa khi chưa kịp vào thăm miền Nam giải phóng, nhưng khát vọng của nhân dân về một “Thành phố mang tên Người” vẫn được tiếp nối bền bỉ.
Chính quyết tâm ấy đã biến thành sức mạnh để quân và dân ta làm nên đại thắng mùa Xuân năm 1975, chính thức hiện thực hóa quyết định đổi tên Sài Gòn - Gia Định thành Thành phố Hồ Chí Minh vào ngày 02/7/1976.

Bác Hồ gặp bác sĩ Phùng Văn Cung, tháng 3/1969 (Ảnh tư liệu)
Bài hát gây xúc động đúng ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng
Đầu năm 1975, nhạc sĩ Cao Việt Bách sáng tác ca khúc “Tiếng hát từ hành phố mang tên Người”, góp phần lan tỏa rộng rãi tên gọi này trước ngày giải phóng
Ca khúc “Tiếng hát từ thành phố mang tên Người” ra đời trong một hoàn cảnh vô cùng độc đáo, gắn liền với những bước chuyển mình vĩ đại của lịch sử dân tộc.
Trong những ngày quân và dân ta đang hừng hực khí thế tiến công giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước, Nhạc sĩ Cao Việt Bách đã nhen nhóm ý tưởng và đặt bút hoàn thành ca khúc vào tháng 3/1975.
Khi đặt bút viết, nhạc sĩ Cao Việt Bách nhớ lại những câu thơ của nhà thơ Tố Hữu, trong đó từng gọi Sài Gòn là “Thành phố Hồ Chí Minh”. Danh từ thân thương ấy đã khắc sâu vào tâm trí ông. Bản thân nhạc sĩ từng được gặp Bác Hồ khi còn là một thiếu nhi, nên tình cảm kính yêu dành cho Bác luôn thường trực và dạt dào. Ông viết ca khúc bằng niềm tin mãnh liệt vào ngày chiến thắng giải phóng miền Nam.
Ngày 30/4/1975, ngay khi đất nước vừa thống nhất, ca khúc lập tức được phát sóng trên Đài Tiếng nói Việt Nam như một khúc khải hoàn ca reo vui, mừng non sông liền một dải.
Ngày 2/7/1976, khi Quốc hội chính thức quyết định đổi tên thành phố Sài Gòn - Gia Định thành Thành phố Hồ Chí Minh, bài hát lại một lần nữa vang lên khắp mọi miền Tổ quốc qua sóng phát thanh như một cánh thư báo tin mừng. Ca khúc bỗng chốc trở thành một biểu tượng âm nhạc hoàn hảo, đón đầu trọn vẹn sự kiện lịch sử trọng đại này.
Bài hát mở đầu bằng việc gợi nhớ lại sự kiện lịch sử khi người thanh niên Nguyễn Tất Thành ra đi tìm đường cứu nước từ Bến cảng Nhà Rồng ("Từ thành phố này Người đã ra đi..."). Dù Bác đã đi xa, nhưng trong giờ phút khải hoàn, hình bóng Bác dường như vẫn luôn đồng hành cùng đoàn quân giải phóng, hiện hữu ấm áp trong từng nếp nhà, góc phố.
Ca khúc không tập trung mô tả những đau thương, mất mát của chiến tranh hay những trận đánh khốc liệt. Thay vào đó, bài hát ngập tràn giai điệu tự hào về một thành phố đang vươn mình rực rỡ, hướng tới tương lai hòa bình, thịnh vượng và phát triển bền vững theo đúng di nguyện của Người.
Nhạc sĩ Cao Việt Bách đã vô cùng khéo léo khi vận dụng chất liệu âm nhạc cải lương Nam Bộ vào cấu trúc ca khúc. Bài hát được viết ở giọng trưởng với giai điệu hào sảng, hùng tráng, nhưng nhờ sự kết hợp các quãng nhảy xa và quãng 8, người nghe vẫn cảm nhận được sự da diết, tha thiết đậm chất trữ tình của con người phương Nam.
Ngay sau ngày 30/04/1975 dù chưa có văn bản pháp lý chính thức đổi tên nhiều tờ báo lớn trong nước như báo Nhân dân. Hà Nội mới, Giải phóng (sau đổi tên thành Sài Gòn Giải phóng) đã đồng loạt sử dụng tên gọi Thành phố Hồ Chí Minh cho Sài Gòn - Gia Định.
Đặc biệt, Tạp chí Time của Mỹ ra ngày 12/5/1975, ngay trên trang bìa in hình bản đồ nước Việt Nam thống nhất, trong đó Sài Gòn được đánh dấu bằng một ngôi sao với cái tên tiếng Anh: Hochiminh City.

Bìa Tạp chí Time với tên gọi Thành phố Hồ Chí Minh bằng tiếng Anh (Ảnh tư liệu)
Quyết định chính thức hóa về mặt pháp lý tháng 7/1976
Sau khi đất nước hoàn toàn thống nhất, nguyện vọng kéo dài suốt 3 thập kỷ của nhân dân Nam Bộ đã chính thức có cơ hội được hiện thực hóa bằng văn bản pháp lý cao nhất.
Ngày 25/4/1976, Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam đã tổ chức cuộc bầu cử Quốc hội khóa VI, Quốc hội của nước Việt Nam thống nhất.
Kỳ họp thứ nhất Quốc hội khóa VI đã quyết định nhiều vấn đề quan trọng của quốc gia, trong đó có việc đặt tên Sài Gòn- Gia Định mang tên Bác Hồ kính yêu.
Vào lúc 8:20 ngày 02/7/1976, tại kỳ họp thứ nhất quốc hội khóa VI, Quốc hội của nước Việt Nam thống nhất đã ban hành nghị quyết chính thức đặt tên thành phố Sài Gòn - Gia Định là thành phố Hồ Chí Minh.
Nghị quyết ghi rõ việc đổi tên nhằm đáp ứng nguyện vọng tha thiết, tỏ lòng tình yêu vô hạn của nhân dân Thành phố Sài Gòn - Gia Định đối với Chủ tịch Hồ Chí Minh đồng thời vinh danh những chiến công xuất sắc, truyền thống kiên cường, bất khuất của quân và dân Thành phố Hồ Chí Minh qua những giai đoạn cách mạng, nhất là trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước.
Đến đây, ước vọng của nhân dân Nam Bộ, của nhân dân Sài Gòn- Chợ Lớn- Gia Định chính thức thành hiện thực.
[1] Thực ra là kỷ niệm 01 năm ngày Nam Bộ kháng chiến 23/9/1945, còn khởi nghĩa Nam Kỳ là ngày 23/11/1940.
