“Tôi chẳng có gì phải hối tiếc. Nếu còn sống, tôi sẽ tiếp tục hoạt động” - lời tuyên bố đanh thép trước tòa án đế quốc của đồng chí Hà Huy Tập chính là tuyên ngôn về bản lĩnh kiên cường, bất khuất của người cộng sản

Đối diện với những bản án bất công của kẻ thù

Đồng chí Hà Huy Tập có 35 năm tuổi đời, 16 năm hoạt động cách mạng liên tục, trong đó có 2 lần bị bắt giam, kết án tù và quản thúc.

Lần bị bắt thứ nhất, chiều ngày 01/5/1938, trong một chuyến đi công tác, trước sự truy lùng gắt gao của kẻ thù, do có nội phản chỉ điểm, mật thám Pháp lấy cớ Hà Huy Tập mang thẻ thuế thân của người khác, bắt đồng chí, đưa về giam ở Khám Lớn Sài Gòn.

Ngày 24/5/1938, đồng chí bị đưa ra trước Tòa tiểu hình Sài Gòn xử về tội mang thẻ giả. Tòa kết án Hà Huy Tập 2 tháng tù và 5 năm không được lưu trú ở Nam Kỳ. Đồng chí làm đơn chống án vì nếu chỉ có việc thẻ thuế thân mang tên người khác thì không phải ra tòa xử. Tuy nhiên, thực dân Pháp muốn kéo dài việc giam giữ Hà Huy Tập nên mãi đến ngày 26/7/1938, tòa Thượng thẩm Sài Gòn xử phúc án, nâng mức án lên thành 6 tháng tù và 5 năm quản thúc. Cộng với 2 tháng của án trước, thành 8 tháng tù và 5 năm quản thúc.

Sau khi chịu xong án, đồng chí Hà Huy Tập bị đưa về quản thúc tại quê nhà ở Hà Tĩnh, dưới sự theo dõi, giám sát của mật thám Pháp và hằng tháng phải tới dinh Tuần phủ để trình diện. Trong cảnh bị giam lỏng, thông tin bị nhiễu loạn, Hà Huy Tập không hề nản chí, kiên trì theo đuổi lý tưởng đã chọn và dũng cảm vượt qua mọi khó khăn.

Lần bị bắt thứ hai, chỉ mấy tháng sau khi Chiến tranh Thế giới thứ 2 nổ ra. Ngày 30/3/1940, thực dân Pháp ra lệnh bắt Hà Huy Tập, đưa đồng chí về giam ở Khám Lớn Sài Gòn.

Ngày 27/8/1940, Tòa tiểu hình Sài Gòn đưa ra xét xử 17 người, trong đó có đồng chí Hà Huy Tập về tội “hoạt động lật đổ”. Ngày 03/9/1940, Tòa tiểu hình Sài Gòn tuyên án đồng chí Hà Huy Tập và đồng chí Lê Hồng Phong tội “đứng đầu bộ máy bí mật của Quốc tế thứ ba ở Đông Dương”, mỗi người 5 năm tù và 10 năm quản thúc.

Ngày 22/11/1940, cuộc khởi nghĩa Nam Kỳ bùng nổ nhưng bị thất bại. Các cuộc khủng bố, tàn sát những người cách mạng xảy ra khắp các vùng thành thị và thôn quê của Nam Kỳ. Mặc dù, khi ấy đồng chí Hà Huy Tập đang bị giam ở Khám Lớn Sài Gòn nhưng thực dân Pháp quyết định hủy án 5 năm tù và 10 năm quản thúc trước đó, thay vào là một bản án hết sức vô lý nhằm trấn áp phong trào cách mạng của quần chúng, mà trước hết là nhằm vào số cán bộ lãnh đạo của Đảng.

Ngày 25/3/1941, tòa án quân sự Sài Gòn mở phiên tòa đại hình xét xử hàng trăm chiến sĩ cộng sản, trong đó có đồng chí Hà Huy Tập. Tòa án thực dân quyết định bản án tử hình đối với những nhân vật quan trọng của Đảng Cộng sản theo luật đặc biệt thời chiến đối với các đồng chí Nguyễn Văn Cừ, Hà Huy Tập, Võ Văn Tần, Nguyễn Thị Minh Khai... vì tội “chịu trách nhiệm tinh thần về cuộc khởi nghĩa Nam Kỳ”.

Kiên định giữ vững khí tiết người cộng sản

Thực dân Pháp biết rõ Hà Huy Tập là nhân vật chủ chốt của Đảng, chúng đã dùng những thủ đoạn tra tấn tàn khốc nhất để khai thác thông tin về Trung ương Đảng và kế hoạch khởi nghĩa Nam Kỳ. Tuy nhiên, kẻ thù bất lực trước thái độ kiên định để bảo vệ tổ chức Đảng của Hà Huy Tập. Đồng chí trở thành hạt nhân đoàn kết, tổ chức tù nhân đấu tranh chống chế độ lao tù phản động, đồng thời là hình ảnh tiêu biểu về tinh thần không ngừng học tập, rèn luyện ý chí cách mạng.

Bản lĩnh của Hà Huy Tập không chỉ thể hiện ở sự cứng rắn với kẻ thù, mà còn ở sự điềm tĩnh, bình thản khi đối diện với án tử. Từ Khám Lớn Sài Gòn, Hà Huy Tập viết thư gửi cho gia đình: “Ngày 03/9/1940, tôi bị Tòa Thượng thẩm Sài Gòn xử 5 năm tù. Ngày 25/3/1941, tôi bị Tòa án binh Sài Gòn tuyên án tử hình về tội “hoạt động cộng sản” và “xúi giục phá hoại quốc phòng”. Tôi đã nhờ thầy kiện viết thư sang Vichy xin quan Quốc trưởng Pêtanh cho ân xá. Nếu được ân xá thì phải khổ sai chung thân. Nếu không được ân xá thì sẽ bị bắn hay bị chém. Cương nhận được thư này thì viết thư về khuyên mẹ chớ khóc lóc buồn rầu. Nếu tôi phải bị chết thì ở nhà không nên thờ cúng, điếu phúng, không cần tìm người lập tự. Gia đình bạn hữu chớ xem tôi như là người đã chết mà buồn, trái lại nên xem tôi như người còn sống, nhưng đi vắng vô hạn... mà thôi!

Nếu tôi được khổ sai chung thân thì thường thường sẽ có thơ về thăm gia đình. Nếu chẳng may mà phải chết thì bức thơ này là thơ vĩnh biệt. Tôi chúc cho mọi người trong gia đình và tất cả các bạn hữu gần xa được hạnh phúc và khương ninh”[1].

Với Hà Huy Tập, cái chết không phải là kết thúc. Tinh thần lạc quan cách mạng của đồng chí đã biến cái chết trở nên nhẹ nhàng, thanh thản vì đã sống một cuộc đời xứng đáng, phục vụ cho một mục đích lớn lao hơn.

Hy sinh anh dũng trước họng súng kẻ thù

Mặc dù bị tòa án thực dân quyết định án tử hình, đồng chí Hà Huy Tập vẫn kiên định nêu cao khí tiết của người cách mạng. Đồng chí bác bỏ việc trạng sư tham gia bào chữa, bởi đồng chí thực sự hiểu rõ, nếu người cách mạng chấp nhận lời bào chữa này để thoát khói án tử đồng nghĩa với việc họ đã tự phủ nhận lý tưởng của mình, đã phản bội lại sự hy sinh, mất mát của Đảng và nhân dân.

Đứng trước ranh giới của sự sống và cái chết, đồng chí Hà Huy Tập đã tuyên bố đanh thép: “Tôi chẳng có gì phải hối tiếc. Nếu còn sống, tôi sẽ tiếp tục hoạt động!”. Với đồng chí, cách mạng không phải là một sự lựa chọn nhất thời, mà là thực hiện trách nhiệm với vận mệnh quốc gia.

Với tuyên bố đanh thép trên, đồng chí đã truyền đi một thông điệp vô cùng mạnh mẽ cho phong trào cách mạng rằng, cuộc chiến không dừng lại ở đây mà sẽ còn tiếp tục cho đến ngày toàn thắng và đây cũng chính là lời thề son sắt của một người con ưu tú, đã dâng hiến trọn vẹn đời mình cho độc lập dân tộc.

Sau cuộc khởi nghĩa Nam Kỳ, thực dân Pháp dựng nên ở Hóc Môn 3 trường bắn. Ngày 28/8/1941, tại trường bắn ở ngã tư Giếng nước, Hóc Môn, Gia Định (nay là Trung tâm y tế thành phố Hồ Chí Minh), đồng chí Hà Huy Tập bị thực dân Pháp xử bắn cùng với một số cán bộ lãnh đạo khác của Đảng.

Ngã xuống ở tuổi 35, độ tuổi đang tràn đầy nhiệt huyết, sáng tạo và tinh thần cống hiến, đồng chí Hà Huy Tập đi vào cõi vĩnh hằng với khí phách hiên ngang, thái độ cương quyết giữ trọn niềm tin vào tương lai thắng lợi của cách mạng.

Khu mộ Tổng Bí thư Hà Huy Tập tại xã Cẩm Hưng, tỉnh Hà Tĩnh

Giá trị để lại cho hậu thế

Đồng chí Hà Huy Tập ngã xuống, nhưng lý tưởng cách mạng của đồng chí đã trở thành ngọn đuốc soi đường cho các thế hệ nối tiếp đi tới ngày toàn thắng.

Sự hy sinh oanh liệt của các cán bộ lãnh đạo như Hà Huy Tập có sức hiệu triệu vô cùng to lớn. Đồng chí đã gieo vào lòng quần chúng nhân dân sự phẫn nộ tột cùng đối với thực dân Pháp, đồng thời bồi đắp niềm tin rằng một dân tộc có những người lãnh đạo dám hi sinh cho đại nghĩa thì dân tộc đó nhất định sẽ thắng lợi.

Biến đau thương thành hành động, tinh thần cách mạng Hà Huy Tập chính là ngọn lửa cháy mãnh liệt, hun đúc ý chí cho toàn Đảng, toàn dân bước vào cuộc tổng khởi nghĩa giành chính quyền năm 1945.

Trong Báo cáo chính trị tại Đại hội II của Đảng, ngày 11/02/1951, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định: “Các đồng chí ta như đồng chí Trần Phú, đồng chí Ngô Gia Tự, đồng chí Lê Hồng Phong, đồng chí Nguyễn Thị Minh Khai, đồng chí Hà Huy Tập, đồng chí Nguyễn Văn Cừ, đồng chí Hoàng Văn Thụ, và trăm nghìn đồng chí khác đã đặt lợi ích của Đảng, của cách mạng, của giai cấp, của dân tộc lên trên hết, lên trước hết. Các đồng chí đó đã tin tưởng sâu sắc, chắc chắn vào lực lượng vĩ đại và tương lai vẻ vang của giai cấp và của dân tộc. Các đồng chí ấy đã vui vẻ hy sinh hết thảy, hy sinh cả tính mệnh mình cho Đảng, cho giai cấp, cho dân tộc. Các đồng chí ấy đã đem xương máu mình vun tưới cho cây cách mạng, cho nên cây cách mạng đã khai hoa, kết quả tốt đẹp như ngày nay”[2].

Tổng Bí thư Hà Huy Tập thuộc thế hệ những người cộng sản đầu tiên, cốt cán của Đảng. Tuy thời gian hoạt động cách mạng không dài, nhưng đồng chí đã sống một cuộc đời cách mạng sôi nổi và vinh quang; đã cống hiến trọn đời cho sự nghiệp cách mạng của Đảng, của dân tộc; đã để lại cho Đảng những bài học quý báu cả về lý luận và thực tiễn hoạt động cách mạng.

Sự hy sinh của đồng chí đã góp phần xác lập những chuẩn mực đạo đức căn cốt cho cán bộ, đảng viên trong mọi thời kỳ. Đó là, đặt lợi ích của Đảng, của cách mạng, của giai cấp, của dân tộc lên trên hết, lên trước hết; tin tưởng sâu sắc, chắc chắn vào lực lượng vĩ đại và tương lai vẻ vang của giai cấp và của dân tộc; sẵn sàng hy sinh hết thảy, hy sinh cả tính mệnh mình cho Đảng, cho giai cấp, cho dân tộc.

Cái chết vì đại nghĩa của những chiến sĩ như đồng chí Hà Huy Tập được xem là việc hoàn thành sứ mệnh với dân tộc. “Cây cách mạng” mà đồng chí vun tưới bằng khí tiết lẫm liệt tại pháp trường Hóc Môn năm 1941 đã sớm khai hoa bằng cuộc Cách mạng Tháng Tám năm 1945 thành công, bằng một nước Việt Nam độc lập, hòa bình, phát triển như ngày nay. Sự hy sinh đó đã tạc nên hình hài Tổ quốc hôm nay và hình ảnh đồng chí Hà Huy Tập vẫn đang hiện hữu trong sự vững mạnh của Đảng, trong lòng dân tộc và nhân dân Việt Nam.

 

[1] Chương trình viết tiểu sử các đồng chí lãnh đạo Đảng và Nhà nước: Hà Huy Tập – tiểu sử, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2006, tr.216-217.

[2] Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia - Sự thật, Hà Nội, 2011, t.7, tr. 25.