![]()
Công nhân làm việc trên dây chuyền tại Nhà máy lắp ráp ô tô Ford Hải Dương_Ảnh: vietnamplus.vn
Trên cơ sở đó, Đảng Cộng sản Việt Nam đặt ra hệ chỉ tiêu phát triển rất cụ thể cho giai đoạn 2026-2030: tốc độ tăng trưởng GDP bình quân từ 10%/năm trở lên; GDP bình quân đầu người khoảng 8.500 USD; tỉ trọng kinh tế số khoảng 30% GDP; đóng góp của năng suất các nhân tố tổng hợp (TFP) vào tăng trưởng đạt trên 55%; tốc độ tăng năng suất lao động bình quân khoảng 8,5%/năm[1]. Những chỉ tiêu này cho thấy định hướng phát triển trong giai đoạn mới không thể tiếp tục dựa chủ yếu vào lao động giản đơn, khai thác tài nguyên hay gia công ở trình độ thấp, mà phải chuyển mạnh sang mô hình tăng trưởng dựa trên năng suất, tri thức, công nghệ và đổi mới sáng tạo. Nếu không nâng cấp lực lượng sản xuất theo hướng hiện đại, Việt Nam sẽ khó vượt qua giới hạn tăng trưởng dựa vào các lợi thế truyền thống (lao động giá rẻ, gia công, khai thác tài nguyên) và khó tạo “bước nhảy” về năng suất - chất lượng - hiệu quả.
Tinh thần ấy được cụ thể hóa rất rõ trong chương trình hành động triển khai Nghị quyết Đại hội XIV khi Văn kiện dành hẳn một hợp phần về xác lập mô hình tăng trưởng mới, cơ cấu lại nền kinh tế, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, với trọng tâm là khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số[2]. Một trong những quan điểm chỉ đạo lớn mà Đại hội nêu ra là phải tháo gỡ điểm nghẽn thể chế, khơi thông và giải phóng sức sản xuất cùng mọi nguồn lực cho phát triển. Điều đó cho thấy, phát triển lực lượng sản xuất mới không chỉ là vấn đề kỹ thuật hay công nghệ, mà là yêu cầu có tính chiến lược gắn với đổi mới mô hình phát triển quốc gia.
Theo đó, lực lượng sản xuất mới không được hiểu giản đơn là tăng thêm máy móc hay mở rộng quy mô sản xuất, mà là sự hình thành một nền tảng sản xuất hiện đại dựa trên tri thức, công nghệ, dữ liệu và năng lực đổi mới. Việc Văn kiện đặt mục tiêu kinh tế số đạt khoảng 30% GDP, đồng thời triển khai các đề án phát triển kinh tế dữ liệu, công nghiệp dữ liệu và trung tâm dữ liệu quốc gia cho thấy dữ liệu đã được nhìn nhận như một nguồn lực phát triển mới, có ý nghĩa trực tiếp đối với quá trình hình thành lực lượng sản xuất mới trong kỷ nguyên số[3].
Đại hội XIV đồng thời xác định rõ con đường xây dựng lực lượng sản xuất mới phải gắn với phát triển các ngành công nghiệp nền tảng, công nghiệp mũi nhọn, công nghiệp mới nổi; thúc đẩy các lĩnh vực công nghệ cao, trong đó xuất hiện ngày càng rõ các hướng ưu tiên như trí tuệ nhân tạo, chip bán dẫn, dữ liệu và các công nghệ mới[4]. Điều này phản ánh bước phát triển mới trong tư duy của Đảng: công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong giai đoạn hiện nay không chỉ là mở rộng quy mô công nghiệp, mà phải hướng vào làm chủ công nghệ, nâng cao hàm lượng tri thức và tạo năng lực cạnh tranh mới cho nền kinh tế.
Đặc biệt, Đảng ta chỉ rõ, việc triển khai phát triển lực lượng sản xuất mới không chỉ theo chiều “số hóa”, mà còn theo chiều “xanh hóa” và hiện đại hóa nguồn nhân lực. Trong chương trình hành động, Văn kiện nêu các nhiệm vụ phát triển công nghiệp năng lượng xanh, năng lượng sạch; hỗ trợ doanh nghiệp tiên phong trong đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, chuyển đổi xanh, kinh tế tuần hoàn; đồng thời xây dựng chương trình đào tạo nhân lực chất lượng cao theo chuẩn quốc tế ở những ngành mũi nhọn, lĩnh vực ưu tiên và mới nổi[5]. Như vậy, lực lượng sản xuất mới theo tinh thần Đại hội XIV là lực lượng sản xuất vừa hiện đại về công nghệ, vừa bền vững về môi trường, vừa được bảo đảm bởi chất lượng nguồn nhân lực.
Ở phương diện thể chế và chủ thể kinh tế, Văn kiện Đại hội XIV cho thấy rất rõ vai trò quan trọng của khu vực doanh nghiệp, nhất là doanh nghiệp tư nhân, trong việc thúc đẩy lực lượng sản xuất mới. Chương trình hành động nêu rõ yêu cầu rà soát, điều chỉnh cơ chế, chính sách để tạo điều kiện thuận lợi và bình đẳng hơn cho doanh nghiệp tư nhân trong nước tiếp cận vốn, đất đai, chính sách ưu đãi và các nguồn lực khác; hỗ trợ nâng cao năng lực tài chính, công nghệ, quản trị; và từng bước hình thành một số tập đoàn kinh tế tư nhân mạnh, quy mô lớn, đầu đàn để dẫn dắt chuỗi giá trị trong nước và mở rộng tham gia thị trường toà n cầu[6]. Đây chính là điều kiện thể chế quan trọng để lực lượng sản xuất mới không chỉ được hình thành mà còn có môi trường để phát triển mạnh mẽ, thực chất.
Đáng chú ý, trong các trụ cột của phát triển lực lượng sản xuất mới, Văn kiện Đại hội XIV đặt nguồn nhân lực chất lượng cao và chính sách nhân tài vào vị trí then chốt. Không chỉ dừng ở yêu cầu đào tạo nhân lực chất lượng cao theo chuẩn quốc tế, Văn kiện còn nêu nhiệm vụ xây dựng cơ chế, chính sách phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, thu hút và trọng dụng nhân tài, cũng như xây dựng Chiến lược quốc gia về thu hút và trọng dụng nhân tài phục vụ phát triển nhanh, bền vững. Có thể thấy, lực lượng sản xuất mới, xét đến cùng, không phải chỉ là công nghệ hay vốn đầu tư, mà trước hết là con người có năng lực sáng tạo, làm chủ công nghệ và chuyển hóa tri thức thành năng suất, chất lượng, hiệu quả phát triển.
Từ những định hướng trên có thể thấy, Văn kiện Đại hội XIV đã thể hiện một bước phát triển mới trong tư duy lý luận và thực tiễn của Đảng về lực lượng sản xuất. Nếu trước đây trọng tâm thường đặt vào mở rộng quy mô sản xuất, huy động vốn và lao động, thì nay trọng tâm đã chuyển mạnh sang mô hình tăng trưởng dựa trên khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, kinh tế số, kinh tế dữ liệu, năng lượng xanh, cùng với nguồn nhân lực chất lượng cao và thể chế phát triển hiện đại.
Như vậy, theo tinh thần Văn kiện Đại hội XIV, phát triển lực lượng sản xuất mới chính là con đường để Việt Nam tạo ra nền tảng vật chất - kỹ thuật mới cho công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong kỷ nguyên số; nâng cao năng lực tự chủ, sức chống chịu và năng lực cạnh tranh của nền kinh tế; đồng thời hiện thực hóa mục tiêu phát triển đất nước nhanh, bền vững đến năm 2030 và tầm nhìn đến năm 2045 vì một nước Việt Nam phồn vinh, văn minh, hạnh phúc, vững bước đi lên chủ nghĩa xã hội.. Định hướng phát triển lực lượng sản xuất mới theo tinh thần Đại hội XIV là lựa chọn chiến lược đúng đắn, phù hợp xu thế thời đại và yêu cầu thực tiễn của đất nước.
[1] Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2026, t.I, tr.84-85, 189.
[2] Đảng Cộng sản Việt Nam, Sđd, tr.201.
[3] Đảng Cộng sản Việt Nam, Sđd, tr.189, 238.
[4] Đảng Cộng sản Việt Nam, Sđd, tr.203-204, 207, 224-225.
[5] Đảng Cộng sản Việt Nam, Sđd, tr.204, 206.
[6] Đảng Cộng sản Việt Nam, Sđd, tr.206 - 207.
