
Trong công tác bảo vệ an ninh tư tưởng chính trị, một thách thức nan giải là phân biệt cho đúng hai hiện tượng bề ngoài giống nhau nhưng bản chất khác nhau: một bên là biểu đạt bức xúc dân sinh chính đáng cần được lắng nghe, giải quyết; bên kia là hành vi cố ý lợi dụng bức xúc ấy để kích động bất ổn, chống phá, cần được nhận diện và kiên quyết đấu tranh. Ranh giới giữa chúng không phải lúc nào cũng hiển hiện, và chính danh giới mờ nhạt đó tạo không gian cho các thủ đoạn lợi dụng.
Việc phân biệt này mang ý nghĩa sống còn. Nếu đánh đồng mọi biểu đạt bức xúc thành “chống phá”, ta sẽ vô tình đẩy những người dân có nguyện vọng chính đáng về phía đối lập, mở rộng cơ sở xã hội cho các phần tử cực đoan, thù địch. Ngược lại, nếu thiếu cảnh giác, buông lỏng, xem nhẹ thì một vấn đề dân sinh hay trật tự xã hội thông thường có thể bị đẩy thành vấn đề an ninh tư tưởng chính trị hay rộng hơn là an ninh quốc gia. Bảo vệ an ninh tư tưởng chính trị vì thế đòi hỏi năng lực kép: vừa giải quyết thấu đáo vấn đề dân sinh, vừa nhận diện chính xác thủ đoạn lợi dụng để chống phá.
Đại hội XIV của Đảng xác định “an ninh văn hóa tư tưởng” là lĩnh vực đặc biệt quan trọng, đồng thời cảnh báo các thế lực thù địch sẽ triệt để lợi dụng những vấn đề phức tạp nảy sinh để chống phá[1]. Nghị quyết số 35-NQ/TW ngày 22-10-2018 của Bộ Chính trị cũng khẳng định bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng là “nội dung cơ bản, hệ trọng, sống còn”, gắn với “giữ gìn môi trường hòa bình, ổn định để phát triển đất nước”[2].
Nhận diện những thủ đoạn lợi dụng vấn đề dân sinh để chống phá về tư tưởng chính trị
Vấn đề dân sinh rất dễ bị lợi dụng vì có thể động chạm tới lợi ích thiết thân của người dân nên có sức nén cảm xúc lớn, lại dễ lan truyền trong môi trường mạng xã hội vốn khuếch đại chóng mặt cả thông tin thật lẫn giả. Từ thực tiễn khu vực, có thể khái quát bốn nhóm thủ đoạn điển hình, thường diễn ra theo trình tự leo thang.
Một là, thổi phồng, bóp méo và bịa đặt thông tin. Với sự phát triển của AI và mạng xã hội, đây là thủ đoạn phổ biến nhất hiện nay. Trong cuộc bất ổn ở Nepal tháng 9-2025, nghiên cứu ghi nhận thông tin sai lệch lan truyền chóng mặt trên mạng xã hội, từ phóng đại số người thương vong đến bịa đặt nội dung tôn giáo, chính trị. Ngay cả người có học vấn cao cũng có thể mắc bẫy tin đồn, tin giả trong khi lực lượng kiểm chứng chật vật ứng phó với các luận điệu giàu tính kích động[3].
Hai là, “chiếm dụng”, lồng ghép mục tiêu chính trị và chuyển hóa yêu sách. Các thế lực cơ hội tìm cách biến một phong trào dân sinh tự phát thành công cụ cho mục tiêu chính trị định sẵn. Trường hợp Sri Lanka năm 2022 minh họa rõ: phong trào phản kháng ban đầu phần lớn là phi chính trị, phi đảng phái mà xuất phát từ khủng hoảng kinh tế, nhưng sau đó bị các phe phái chính trị lợi dụng để đẩy tới đích thay đổi chính quyền[4]. Sự trượt dần của khẩu hiệu từ “giải quyết vấn đề cụ thể” sang “thay đổi chính quyền” thường là kết quả định hướng của một thiểu số có mục tiêu chính trị, chứ không phản ánh nguyện vọng của đa số người tham gia ban đầu.
Ba là, kích động bạo lực và cực đoan hóa. Khi phong trào đã đủ nóng, các phần tử quá khích tìm cách biến biểu tình ôn hòa thành bạo động, tạo đổ máu để đẩy đối đầu lên đỉnh điểm, triệt tiêu khả năng đối thoại. Bangladesh năm 2024 là hệ quả bi thảm: từ tranh chấp về hạn ngạch việc làm, khi bị đẩy lên bạo lực, phong trào leo thang thành nổi dậy toàn quốc với thương vong ước tính khoảng 1.500 người[5]. Bạo lực một khi bùng phát sẽ tạo vòng xoáy: vừa là cái cớ, vừa là “nhiên liệu” tuyên truyền, mỗi thương vong lại bị biến thành biểu tượng kích động cho vòng đối đầu sau.
Bốn là, lợi dụng chính những sai sót trong ứng xử của chính quyền. Thủ đoạn này mang tính “gậy ông đập lưng ông”: khai thác chính những phản ứng vụng về, thái quá, chưa phù hợp của cơ quan chức năng để khuếch đại sự chính danh cho phong trào. Bài học Nepal đặc biệt sâu sắc: lệnh cấm mạng xã hội, vốn nhằm kiểm soát thông tin, lại trở thành ngòi nổ của khủng hoảng, bị diễn giải thành bằng chứng của sự “đàn áp”[6]. Điều đó cho thấy nhận thức về thủ đoạn lợi dụng phải luôn đi kèm yêu cầu tự hoàn thiện phương thức ứng xử của chính quyền.
Cần lưu ý một yêu cầu có tính hai chiều: bản thân cáo buộc “bị lợi dụng” cũng có thể bị lạm dụng. Trở lại trường hợp Ấn Độ, khi Bộ trưởng Giáo dục viện dẫn nguy cơ “các thế lực chống quốc gia lợi dụng” để giải thích việc từ chức, ông không đưa ra bằng chứng cụ thể, và cách nói mơ hồ đó bị hiểu là quy chụp rằng người biểu tình bị kẻ thù của đất nước dẫn dắt[7]. Bài học cho công tác tham mưu là: khi khẳng định một hiện tượng “bị lợi dụng”, phải dựa trên bằng chứng kiểm chứng được, tránh quy chụp toàn bộ số đông dựa trên hành vi của một thiểu số bởi quy chụp vội vàng cũng là một cách đẩy quần chúng ra xa và tự đánh mất tính chính danh.
Kết hợp chặt chẽ giữa “xây” và “chống” để bảo vệ an ninh tư tưởng chính trị
Trước những thủ đoạn tinh vi nêu trên, việc bảo vệ an ninh tư tưởng chính trị cần triển khai theo nguyên tắc kết hợp chặt chẽ giữa “xây” và “chống”, trong đó “xây” là gốc. Có thể khái quát thành bốn nhóm giải pháp trọng tâm.
Một là, giải quyết thực chất các vấn đề dân sinh để vô hiệu hóa “nguyên liệu” bị lợi dụng. Đây là giải pháp căn cơ nhất. Các thế lực cơ hội chỉ “mượn” được tính chính đáng khi bức xúc dân sinh có thật và chưa được giải quyết. Chính vì thế, ở Ấn Độ, một khi Chính phủ chấp thuận các yêu cầu chính đáng và bộ trưởng liên quan từ chức, phong trào đã tự giải tán “trên tinh thần thiện chí”, khiến mọi ý đồ lợi dụng mất chỗ bấu víu[8]. Đây là sự vận dụng trực tiếp tư tưởng “lấy phát triển để ổn định” và quan điểm “an ninh con người là mục đích” của Đại hội XIV: phòng tuyến tư tưởng vững chắc nhất được xây bằng chính chất lượng quản trị và an sinh xã hội, chứ không chỉ bằng công cụ đấu tranh[9].
Hai là, phân biệt đúng đối tượng, tranh thủ và tập hợp số đông. Phải phân biệt rạch ròi giữa quần chúng có bức xúc chính đáng và số ít cố tình lợi dụng, kích động; kiên trì đối thoại, giải quyết nguyện vọng của số đông, chỉ tập trung đấu tranh với những phần tử lợi dụng và hành vi chống phá có bằng chứng. Đây là nghệ thuật “tranh thủ, phân hóa”: cô lập các phần tử cực đoan khỏi quần chúng chứ không đẩy quần chúng về phía chúng. Nguyên tắc “dĩ bất biến ứng vạn biến” của Nghị quyết số 44-NQ/TW là phương châm: kiên định nguyên tắc, mục tiêu chiến lược, nhưng linh hoạt về sách lược trong từng tình huống[10].
Ba là, chủ động, minh bạch thông tin và nâng cao sức đề kháng cho nhân dân. Vì thông tin giả, sai lệch là thủ đoạn hàng đầu, giải pháp then chốt là chủ động, minh bạch, kịp thời cung cấp thông tin chính thống, không để “khoảng trống thông tin” cho tin giả hoành hành, đồng thời củng cố sức đề kháng của công chúng qua giáo dục năng lực số và tư duy phản biện đúng định hướng Nghị quyết số 35-NQ/TW về nâng cao sức đề kháng của nhân dân, nhất là thế hệ trẻ[11]. “Sức đề kháng” của nhân dân trước thông tin xấu độc chính là tuyến phòng thủ tư tưởng bền vững nhất.
Bốn là, quản trị không gian mạng cân bằng và xây dựng thế trận lòng dân. Không gian mạng ngày càng trở thành mặt trận chính của cuộc đấu tranh tư tưởng chính trị hiện nay, cần được quản trị cân bằng: vừa bảo đảm chủ quyền số, an ninh mạng và trật tự thông tin, vừa tránh các biện pháp thô bạo diện rộng vốn dễ phản tác dụng như bài học Nepal. Về pháp lý, công tác này dựa trên Luật An ninh mạng năm 2018, Luật Dữ liệu năm 2024 và Nghị định số 147/2024/NĐ-CP, với yêu cầu cốt lõi là phân biệt hành vi vi phạm pháp luật cần xử lý nghiêm với biểu đạt chính đáng cần tôn trọng[12]. Sâu xa hơn, nền tảng của mọi giải pháp là thế trận lòng dân: xây dựng một xã hội có kỷ cương, an toàn, niềm tin cao, đời sống văn hóa lành mạnh và đồng thuận thực chất sẽ tự tạo thành “hệ miễn dịch” trước mọi thủ đoạn chia rẽ, kích động, đúng tinh thần “an ninh kiến tạo” mà Đại hội XIV đề ra[13].
Đấu tranh làm thất bại mọi thủ đoạn lợi dụng vấn đề dân sinh để chống phá về tư tưởng chính trị là quá trình lâu dài. Bài học từ các điểm nóng vừa qua ở Nam Á, Đông Nam Á chỉ ra một chân lý: đấu tranh chống thủ đoạn lợi dụng không thể tách rời việc giải quyết thấu đáo vấn đề dân sinh, giữ vững tính chính danh và nâng cao năng lực đề kháng cho người dân khi tham gia không gian số; các thế lực cơ hội chỉ mạnh khi có bức xúc thật để “mượn” và có sai lầm quản trị để khai thác. Vì vậy, bảo vệ an ninh tư tưởng chính trị là sự thống nhất giữa “xây” và “chống”, trong đó sức mạnh của “chống” bắt nguồn từ chất lượng của “xây”. Đó cũng là tinh thần xuyên suốt của Nghị quyết số 35-NQ/TW, Nghị quyết số 44-NQ/TW và nhận thức mới về an ninh của Đại hội XIV: giữ vững an ninh tư tưởng chính trị, bảo vệ vững chắc an ninh quốc gia bắt đầu từ việc chăm lo cho nhân dân và củng cố vững chắc niềm tin của nhân dân./.
[1] Lương Tam Quang, “Nhận thức, tư duy mới về an ninh trong Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng,” Tạp chí Cộng sản, 8-2-2026.
[2] Nghị quyết số 35-NQ/TW ngày 22-10-2018 của Bộ Chính trị về tăng cường bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trong tình hình mới.
[3] Ujjwal Acharya, “Misinformation during the Gen Z Uprising in Nepal: Trends and Lessons Learned for Interventions,” Center for Media Research – Nepal, 13-10-2025.
[4] Carnegie Endowment for International Peace, “The Aragalaya Protest Movement and the Struggle for Political Change in Sri Lanka,” 27-8-2025.
[5] WTW, “Asian Spring: Implications of Gen Z Protests in South and Southeast Asia,” 16-12-2025.
[6] “2025 Nepalese Gen Z Protests,” Britannica, truy cập tháng 7-2026.
[7] “India’s ‘Cockroach’ Movement Ousts Minister, but Can Modi Calm Youth?,” NPR, 25-7-2026.
[8] “India’s Education Minister Resigns after Weeks of ‘Cockroach’ Protests,” Al Jazeera, 25-7-2026.
[9] Lương Tam Quang, bài đã dẫn, 8-2-2026.
[10] Nghị quyết số 44-NQ/TW ngày 24-11-2023 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII về Chiến lược bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới.
[11] Nghị quyết số 35-NQ/TW, bài đã dẫn, 22-10-2018.
[12] Luật An ninh mạng (2018); Luật Dữ liệu (2024); Nghị định số 147/2024/NĐ-CP về quản lý, cung cấp, sử dụng dịch vụ Internet và thông tin trên mạng.
[13] Lương Tam Quang, bài đã dẫn, 8-2-2026.
