Văn học, nghệ thuật luôn giữ vị trí quan trọng trong đời sống tinh thần của xã hội, là không gian thể hiện tâm hồn, khí phách, bản lĩnh và khát vọng của dân tộc Việt Nam. Nhận thức rõ vai trò to lớn này, các thế lực thù địch, phản động chưa bao giờ từ bỏ âm mưu sử dụng văn học, nghệ thuật làm công cụ chuyển hóa tư tưởng, nhận thức của công chúng. Đặc biệt, trong thời gian gần đây, bên cạnh việc cổ xúy cho các trào lưu lệch chuẩn trong sáng tác, phát hành các ấn phẩm văn học, nghệ thuật, các thế lực thù địch còn lợi dụng việc các cơ quan chức năng xử lý sai phạm để xuyên tạc, chống phá Đảng, Nhà nước ta.

Thủ đoạn mới trong lĩnh vực tư tưởng - văn hóa

Trong âm mưu "diễn biến hòa bình", các thế lực thù địch xác định rõ: Thay vì những đợt tấn công quân sự trực diện, việc làm suy thoái từ gốc rễ tư tưởng, văn hóa và đạo đức xã hội mang lại hệ quả lâu dài. Do đó, chúng tìm mọi cách thâm nhập vào đời sống văn học, văn nghệ, khuyến khích tư tưởng “vị nghệ thuật”, cổ xuý xu hướng “ly khai” văn học, nghệ thuật khỏi chính trị.

Đáng chú ý, khi các tác phẩm văn học, nghệ thuật có biểu hiện lệch chuẩn, cài cắm những tư tưởng phản động, “xét lại” lịch sử hoặc vi phạm thuần phong mỹ tục nên bị các cơ quan chức năng xử lý, các thế lực thù địch lại lập tức chuyển hướng tấn công. Chúng biến những vụ việc xử lý sai phạm cụ thể thành "cái cớ" để “đánh tráo khái niệm”, “bóp méo sự thật”, tấn công trực diện vào đường lối lãnh đạo của Đảng và công tác quản lý nhà nước về văn hóa nói chung và văn học, nghệ thuật nói riêng. Đây là một thủ đoạn thâm độc, núp bóng danh nghĩa "bảo vệ tự do sáng tạo" nhằm chuyển hoá nhận thức của công chúng và hướng lái dư luận xã hội.

Những ngày gần đây, lợi dụng việc các cơ quan quản lý xử lý những sai phạm trong sáng tác, xuất bản cuốn sách văn học có nội dung xuyên tạc, bôi nhọ lịch sử, “hạ bệ thần thượng”, các thế lực thù địch lại gia tăng các hoạt động chống phá vào các hướng sau:

Một là, cáo buộc Đảng, Nhà nước ta bóp nghẹt “sáng tạo nghệ thuật”, “đàn áp văn nghệ sĩ”. Chúng cố tình quy chụp rằng mọi quyết định xử lý sai phạm đều mang động cơ "kiểm duyệt chính trị", "độc tài". Qua đó, chúng muốn hạ thấp uy tín của các cơ quan quản lý văn hóa, làm giảm niềm tin của nhân dân vào đường lối, chủ trương của Đảng, gieo rắc tư tưởng nghi kỵ đối với các cơ quan quản lý báo chí, xuất bản.

Hai là, khoét sâu mâu thuẫn, thúc đẩy "tự diễn biến", "tự chuyển hóa" trong giới văn nghệ sĩ. Nhận thấy một số văn nghệ sĩ có những bài đăng, dòng trạng thái có biểu hiện hoài nghi, bất mãn trên mạng xã hội về việc xử lý những sai phạm, các thế lực thù địch đã thêu dệt rằng giới văn nghệ đang bị "bóp nghẹt", "bịt miệng". Đây là cách thức “thêm dầu vào lửa” để thúc đẩy những biểu hiện "tự diễn biến", "tự chuyển hóa” trong một bộ phận văn nghệ sĩ, trí thức.

Ba là, chuyển hoá nhận thức, nắn dòng dư luận đối với một bộ phận công chúng mạng. Lợi dụng sự quan tâm của cộng động mạng với việc xử lý các cá nhân, tổ chức có liên quan đến việc sáng tác, xuất bản cuốn sách có nội dung xuyên tạc lịch sử, “hạ bệ thần tượng”; các thế lực thù địch đã xuyên tạc việc xử lý sai phạm là “đánh hội đồng”, “chưa thoả đáng” vì còn để “lọt lưới” nhiều cá nhân, tổ chức. Từ đó hướng lái dư luận từ việc lên án các sai phạm trong sáng tác, xuất bản ấn phẩm văn học thành sự hoài nghi, mất niềm tin vào sự lãnh đạo của Đảng, quản lý của Nhà nước trong lĩnh vực văn học, nghệ thuật.

Bốn là, quốc tế hóa các vụ việc vi phạm. Tỏ vẻ “bất bình” với việc xử lý những sai phạm, các thế lực thù địch đã hô hào, vận động các tổ chức phi chính phủ hoặc truyền thông nước ngoài vốn có cái nhìn thiếu thiện chí với Việt Nam lên tiếng can thiệp, bảo vệ những đối tượng vi phạm. Chúng cố tình thêu dệt rằng ở Việt Nam "không có tự do ngôn luận”, “bóp nghẹt tự do sáng tạo", “vi phạm nhân quyền trong sáng tác”; từ đó tạo cớ cho các thế lực bên ngoài gây sức ép chính trị, ngoại giao đối với Việt Nam.

Những thủ đoạn trên thực chất là những biểu hiện mới của “diễn biến hoà bình” trên lĩnh vực văn học, nghệ thuật; tạo cớ từ việc xử lý những sai phạm để công kích, chống phá Đảng, Nhà nước Việt Nam từ bên trong; thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hoá” trong bản thân đội ngũ văn nghệ sĩ, trí thức cũng như xu hướng hoài nghi, mất niềm tin của nhân dân. Mục đích sâu xa của những hoạt động chống phá này là đòi “phi chính trị hoá” văn học, nghệ thuật để dễ bề thao túng, “dắt mũi” một bộ phận văn nghệ sĩ có tư tưởng bất mãn, chống đối; nắn dòng dư luận, tạo ra bất đồng, mâu thuẫn trong xã hội.

Kiên quyết đấu tranh bảo vệ nền văn học, nghệ thuật chân chính

Trước những âm mưu thâm độc và thủ đoạn tinh vi của các thế lực thù địch, việc triển khai đồng bộ, quyết liệt các giải pháp đấu tranh phản bác là yêu cầu cấp thiết nhằm bảo vệ vững chắc trận địa tư tưởng, giữ gìn kỷ cương pháp luật và sự trong sáng của nền văn học, nghệ thuật cách mạng.

Một là, nâng cao năng lực định hướng thông tin, chủ động, minh bạch và đi trước đón đầu trong xử lý khủng hoảng truyền thông. Thực tiễn cho thấy các thế lực thù địch thường lợi dụng "khoảng trống thông tin" ở giai đoạn đầu các vụ việc vi phạm bị phát hiện để tung tin giả, bóp méo sự thật, kích động dư luận. Do đó, giải pháp hàng đầu là các cơ quan quản lý nhà nước và cơ quan chức năng phải chủ động, nhanh chóng cung cấp thông tin chính thống, công khai, minh bạch các căn cứ pháp lý và mức độ vi phạm, khiến cho dư luận xã hội có cái nhìn khách quan, đúng đắn về các sai phạm. Việc đi trước một bước trong cung cấp thông tin sẽ làm vô hiệu hóa các chiêu trò cắt cúp, xuyên tạc của các trang mạng phản động, không cho chúng cơ hội "đổi trắng thay đen".

Hai là, hoàn thiện hệ thống hành lang pháp lý và nâng cao hiệu lực thi hành kỷ cương văn hóa. Một nguyên nhân khiến các đối tượng chống phá thường xuyên nhắm vào lĩnh vực văn học, nghệ thuật là do đôi khi các chế tài xử lý hoặc văn bản hướng dẫn còn điểm nghẽn, tạo kẽ hở để chúng ngụy biện, lèo lái dư luận. Do đó, cần tiếp tục rà soát, bổ sung và hoàn thiện hệ thống luật pháp, các quy định về hoạt động sáng tác, quảng bá, lưu hành tác phẩm văn học, nghệ thuật, đặc biệt là trên không gian mạng và các nền tảng xuyên biên giới. Đồng thời cần phải kiên quyết, nhất quán trong xử lý bảo đảm tính nghiêm minh, công bằng, không có vùng cấm nhưng đồng thời phải đúng người, đúng tội, đúng bản chất sự việc. Sự nghiêm minh của pháp luật chính là lá chắn thép đập tan mọi luận điệu bóp méo, vu cáo rằng nhà nước "đàn áp tự do ngôn luận".

Ba là, tăng cường bản lĩnh chính trị, nâng cao sức đề kháng cho đội ngũ văn nghệ sĩ. Đội ngũ văn nghệ sĩ là chủ thể sáng tạo ra các giá trị văn hóa, đồng thời là đối tượng mà các thế lực thù địch tập trung móc nối, lôi kéo, bơm thổi khi họ vấp phải sai phạm. Do đó, việc xây dựng một đội ngũ văn nghệ sĩ có bản lĩnh vững vàng là giải pháp mang tính chiến lược gốc rễ. Các cơ quan hội nghề nghiệp cần thường xuyên tổ chức sinh hoạt chính trị, quán triệt sâu sắc các quan điểm, đường lối của Đảng về văn học, văn nghệ giúp văn nghệ sĩ thấu triệt tinh thần: Tự do sáng tạo chân chính luôn gắn liền với lợi ích của quốc gia - dân tộc và trách nhiệm trước nhân dân.

Bốn là, nâng cao năng lực "tự đề kháng" cho công chúng mạng. Công chúng mạng chính là đối tượng tiếp nhận, thụ hưởng các sản phẩm văn học, nghệ thuật xong cũng chính là lực lượng đông đảo có vai trò giám sát, phản biện, Do đó, cần đẩy mạng tuyên truyền, giáo dục nâng cao nhận thức, kỹ năng số và tư duy phản biện cho cộng đồng mạng, đặc biệt là thế hệ trẻ. Điều này giúp cho cộng đồng mạng tỉnh táo để nhận diện, phân biệt tốt - xấu, phải - trái, tránh bị các thế lực xấu lôi kéo, kích động làm chuyển hoá nhận thức, quay lưng lại với Đảng, Nhà nước và đội ngũ văn nghệ sĩ chân chính.

Cuộc đấu tranh làm thất bại mọi âm mưu lợi dụng việc xử lý sai phạm trong lĩnh vực văn học, nghệ thuật để chống phá Đảng và Nhà nước là một quá trình lâu dài, khó khăn. Bằng sự kết hợp chặt chẽ giữa minh bạch thông tin, thượng tôn pháp luật, bồi đắp bản lĩnh đội ngũ văn nghệ sĩ và phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân, chúng ta không chỉ vô hiệu hóa hiệu quả các chiến dịch “truyền thông bẩn” của các thế lực thù địch, mà còn góp phần xây dựng một nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, thực sự là hồn cốt và động lực phát triển vững chắc của đất nước trong kỷ nguyên mới.