Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn dành tình cảm đặc biệt cho thương binh, liệt sĩ, thân nhân gia đình liệt sĩ. Trong Di chúc, những dòng đầu tiên Bác căn dặn về việc chăm lo thương binh, gia đình liệt sĩ. Đó không chỉ là sự quan tâm của một lãnh tụ mà còn là tình cảm sâu nặng của Bác đối với những người con đã hy sinh, cống hiến cho dân tộc

Di huấn thiêng liêng của Chủ tịch Hồ Chí Minh

Trong Bản Di chúc thiêng liêng để lại cho muôn đời sau, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dành một phần trang trọng để nói về thương binh, liệt sĩ. Ngắn gọn mà đầy đủ, xúc tích, Người đề cập tới ba đối tượng gắn bó mật thiết với sự hy sinh cao cả:

Trước hết là thương binh – những người đã để lại một phần máu thịt trên chiến trường, Bác dạy: “Đối với những người đã dũng cảm hy sinh một phần xương máu của mình (cán bộ, binh sĩ, dân quân, du kích, thanh niên xung phong..), Đảng, Chính phủ và đồng bào phải tìm mọi cách làm cho họ có nơi ăn chốn ở yên ổn, đồng thời phải mở những những lớp dạy nghề thích hợp với mỗi người để họ có thể dần dần “tự lực cánh sinh”.

Lời căn dặn của Bác cho thấy một tầm nhìn nhân văn sâu sắc và thực tiễn. Người không chỉ nhấn mạnh việc chăm lo đời sống vật chất cho thương binh – những cán bộ, chiến sĩ, dân quân, du kích, thanh niên xung phong… đã dũng cảm hy sinh một phần xương máu – mà còn đặt trọng tâm vào việc tạo điều kiện để họ có thể “tự lực cánh sinh”. Điều này thể hiện qua yêu cầu Đảng, Chính phủ và đồng bào phải tìm mọi cách giúp họ có nơi ăn chốn ở yên ổn, đồng thời mở các lớp dạy nghề phù hợp. Tư tưởng ấy vừa mang tính nhân đạo, vừa mang tính chiến lược: không để những người đã cống hiến rơi vào cảnh khó khăn, mà còn khuyến khích họ tiếp tục đóng góp cho xã hội bằng khả năng của mình. Đây chính là sự kết hợp giữa truyền thống “uống nước nhớ nguồn” và định hướng xây dựng một xã hội công bằng, nhân ái, nơi mọi người đều có cơ hội khẳng định giá trị bản thân.

Tiếp đến là các liệt sĩ – những anh hùng đã hiến dâng trọn đời mình cho độc lập dân tộc, Người căn dặn: “Đối với các liệt sĩ, mỗi địa phương (thành phố, làng xã) cần xây dựng vườn hoa và bia kỷ niệm ghi sự hy sinh anh dũng của các liệt sĩ, để đời đời giáo dục tinh thần yêu nước cho nhân dân ta”.

Lời căn dặn của Chủ tịch Hồ Chí Minh về việc xây dựng vườn hoa và bia tưởng niệm cho các liệt sĩ mang ý nghĩa vô cùng sâu sắc. Đây không chỉ là sự tri ân đối với những người đã hiến dâng trọn đời cho độc lập dân tộc, mà còn là một hình thức giáo dục trực quan, sinh động cho các thế hệ mai sau. Những công trình tưởng niệm ấy trở thành biểu tượng của lòng biết ơn, nơi nhân dân có thể dừng chân, tưởng nhớ và khắc ghi công lao của các anh hùng liệt sĩ. Đồng thời, đó cũng là không gian văn hóa – lịch sử, góp phần nuôi dưỡng tinh thần yêu nước, ý chí kiên cường và trách nhiệm công dân trong mỗi con người Việt Nam. Qua đó, di huấn của Bác được hiện thực hóa bằng những hành động cụ thể, để truyền thống “uống nước nhớ nguồn” không chỉ tồn tại trong lời nói, mà còn hiện diện sống động trong đời sống cộng đồng, gắn kết quá khứ với hiện tại và tương lai.

Cuối cùng là gia đình liệt sĩ – những mái nhà chịu nhiều mất mát, đau thương, Chủ tịch Hồ Chí Minh dạy rằng: “Đối với cha mẹ, vợ con (của thương binh và liệt sĩ) mà thiếu sức lao động và túng thiếu, thì chính quyền địa phương (nếu ở nông thôn thì chính quyền xã cùng hợp tác nông nghiệp) phải giúp đỡ họ có công việc làm ăn thích hợp, quyết không để họ bị đói rét”.

Chủ tịch Hồ Chí Minh thăm hỏi, động viên chiến sĩ quân đội phục viên (Ảnh tư liệu)

Lời căn dặn của Chủ tịch Hồ Chí Minh về việc chăm lo cha mẹ, vợ con của thương binh và liệt sĩ tiếp tục thể hiện rõ tư tưởng nhân văn sâu sắc của Người. Bác nhấn mạnh rằng, đối với những gia đình thiếu sức lao động và túng thiếu, chính quyền địa phương – đặc biệt ở nông thôn là chính quyền xã cùng hợp tác nông nghiệp – phải có trách nhiệm giúp đỡ họ có công việc làm ăn thích hợp, quyết không để họ rơi vào cảnh đói rét. Đây là sự quan tâm toàn diện, không chỉ dành cho người trực tiếp chiến đấu mà còn cho hậu phương, những mái nhà chịu nhiều mất mát. Tư tưởng ấy khẳng định đạo lý “uống nước nhớ nguồn” phải được thực hiện bằng hành động cụ thể, thiết thực, bảo đảm đời sống cho thân nhân liệt sĩ và thương binh. Đồng thời, đó cũng là định hướng để xây dựng một xã hội nhân ái, nơi sự hy sinh được đền đáp bằng sự chăm lo chu đáo, để lòng tri ân trở thành sức mạnh gắn kết cộng đồng và hun đúc tinh thần yêu nước cho muôn đời sau.

Tri ân sâu sắc trong hòa bình

Trong thời kỳ đổi mới đất nước, Đảng và Nhà nước đã dành sự quan tâm đặc biệt đến thương binh, gia đình liệt sĩ thông qua hệ thống chính sách ưu đãi, hỗ trợ y tế, giáo dục, nhà ở và việc làm…. Những chính sách ấy không chỉ mang tính nhân văn sâu sắc mà còn thể hiện trách nhiệm của đất nước đối với những người đã hy sinh, cống hiến cho độc lập dân tộc.

Song song với đó, các phong trào xã hội như “Đền ơn đáp nghĩa”, “Uống nước nhớ nguồn” đã trở thành nét đẹp văn hóa, được duy trì và phát triển rộng khắp. Từ những hoạt động thăm hỏi, tặng quà, xây dựng nhà tình nghĩa đến việc chăm sóc đời sống tinh thần cho thương binh, gia đình liệt sĩ, toàn xã hội đã chung tay thể hiện lòng tri ân sâu sắc.

Đặc biệt, cộng đồng doanh nghiệp và các tổ chức xã hội đã đóng vai trò ngày càng quan trọng trong việc hỗ trợ, tạo việc làm, nâng cao đời sống cho người có công. Nhiều chương trình khởi nghiệp, đào tạo nghề, hỗ trợ vốn sản xuất đã giúp thương binh và con em liệt sĩ có cơ hội hòa nhập, phát triển, khẳng định giá trị bản thân trong xã hội hiện đại.

Văn kiện Đại hội XIV của Đảng tiếp tục khẳng định và hoàn thiện các chính sách đối với người có công với cách mạng, coi đây là một nội dung quan trọng trong quản lý phát triển xã hội bền vững. Dưới đây là các nội dung trọng tâm:

Một là, đánh giá kết quả thực hiện thời gian qua

Thực hiện đầy đủ, kịp thời: Các chính sách đối với người có công với cách mạng đã được thực hiện đầy đủ, kịp thời, bảo đảm tinh thần "không ai bị bỏ lại phía sau"[1].

Cải thiện đời sống: Chính sách đối với người có công được thực hiện ngày càng tốt hơn, góp phần cải thiện rõ rệt đời sống của họ. Việc hoàn thiện và thực hiện các chính sách trợ cấp ưu đãi đã đạt được nhiều tiến bộ quan trọng trong nhiệm kỳ qua[2].

Hai là, định hướng và mục tiêu đến năm 2030

Trong giai đoạn mới, Đảng đề ra các định hướng và mục tiêu cụ thể nhằm chăm lo tốt hơn cho người có công:

Bảo đảm mức sống: Hoàn thiện và thực hiện tốt luật pháp, chính sách đối với người có công trên cơ sở huy động nguồn lực của cả Nhà nước và xã hội[3].

Chỉ tiêu cụ thể: Phấn đấu bảo đảm mức sống của gia đình người có công đạt từ mức trung bình khá trở lên so với mức sống của cộng đồng dân cư nơi cư trú[4].

Ba là, các nhiệm vụ và giải pháp cụ thể

Chương trình hành động thực hiện Nghị quyết Đại hội XIV đã xác định các nhóm nhiệm vụ trọng tâm:

Cải cách chính sách trợ cấp: Gắn việc cải cách chính sách tiền lương với việc hoàn thiện các chính sách bảo hiểm xã hội và trợ cấp ưu đãi người có công sao cho phù hợp với thực tiễn phát triển của đất nước[5].

Hỗ trợ nhà ở: Chú trọng các chính sách hỗ trợ về nhà ở đối với những đối tượng chính sách, người có công còn gặp khó khăn về chỗ ở[6].

Huy động nguồn lực: Đẩy mạnh các hoạt động "Đền ơn đáp nghĩa", huy động tối đa các nguồn lực xã hội để cùng Nhà nước chăm lo toàn diện đời sống vật chất và tinh thần cho người có công[7].

Đại hội XIV nhấn mạnh yêu cầu giải quyết tốt các chính sách xã hội, bảo đảm an ninh, an sinh và an dân, trong đó người có công là đối tượng ưu tiên hàng đầu trong hệ thống chính sách xã hội của quốc gia[8].

Như vậy, sự tri ân sâu sắc đã trở thành động lực sống, được hiện thực hóa bằng những chính sách, phong trào và hành động cụ thể, góp phần xây dựng một Việt Nam nhân văn, thịnh vượng.

Chủ tịch Hồ Chí Minh cùng lãnh đạo Đảng, Nhà nước, Quân đội viếng Nghĩa trang Mai Dịch, Hà Nội, ngày 02/9/1955 (Ảnh tư liệu)

Kim chỉ nam cho truyền thống “uống nước nhớ nguồn”

Chiến tranh đã lùi xa, nhưng những vết thương mà nó để lại vẫn còn hiện hữu trong đời sống hôm nay. Trên cơ thể đất mẹ, vết thương đã phần nào lành lại, song trên thân thể thương binh, và trong trái tim của thân nhân liệt sĩ, nỗi đau vẫn âm ỉ. Thấm nhuần Di huấn thiêng liêng của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Đảng, Nhà nước và Nhân dân ta đã không ngừng hoàn thiện chính sách xã hội đối với người có công và gia đình họ. Hiện nay, khoảng hơn 9 triệu người có công và thân nhân đang được hưởng trợ cấp ưu đãi hàng tháng, đời sống ngày càng được cải thiện. Tuy nhiên, trong điều kiện đất nước còn nhiều khó khăn, sự tri ân ấy mới chỉ là một phần nhỏ bé so với hy sinh to lớn. Chính vì vậy, cần tiếp tục thực hiện thật tốt lời căn dặn chí tình của Bác: chăm lo chính sách xã hội, khuyến khích tinh thần “tự lực cánh sinh”, và đẩy mạnh giáo dục truyền thống để các thế hệ hôm nay và mai sau đời đời ghi nhớ công ơn những người đã hiến dâng cho Tổ quốc.

Trước hết, Đảng, Nhà nước, Mặt trận và các tổ chức chính trị - xã hội, từ Trung ương đến địa phương, cùng với Nhân dân cần kiên trì và nhất quán trong việc chăm lo chính sách “đền ơn đáp nghĩa” đối với người có công và thân nhân của họ. Dẫu biết rằng chúng ta không thể và không bao giờ có thể đền đáp đầy đủ công lao, song để tri ân và đền đáp phần nào, phải gắn kết chặt chẽ giữa phát triển kinh tế – xã hội với việc nâng cao chính sách xã hội. Như phương châm mà Đảng đã đề ra: Mỗi bước phát triển kinh tế – xã hội là một bước thực hiện tốt hơn chính sách xã hội. Đây không chỉ là định hướng, mà còn là trách nhiệm chính trị và đạo lý, để truyền thống “uống nước nhớ nguồn” được hiện thực hóa trong từng bước đi của công cuộc xây dựng và phát triển đất nước.

Hai là, trong điều kiện đất nước còn nhiều khó khăn, chúng ta càng thấm thía lời căn dặn của Bác về tinh thần “tự lực cánh sinh”. Những người có công với nước – thương binh, bệnh binh, thân nhân liệt sĩ… – không chỉ là đối tượng được chăm lo, mà còn là lực lượng quan trọng góp phần vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Chính vì vậy, bên cạnh sự hỗ trợ của Đảng, Nhà nước và Nhân dân, họ cần tiếp tục nỗ lực vươn lên, chủ động khắc phục khó khăn, chung tay cùng cộng đồng để nâng cao đời sống.

Ba là, công tác tuyên truyền, giáo dục phải được đẩy mạnh hơn nữa. Đây là nhiệm vụ không chỉ của Đảng, Nhà nước, Mặt trận và các tổ chức chính trị - xã hội, mà còn của toàn xã hội. Thông qua giáo dục truyền thống, chúng ta giúp các thế hệ hôm nay và mai sau luôn ghi nhớ công ơn của những anh hùng liệt sĩ, những người đã hy sinh một phần xương máu vì độc lập, thống nhất của Tổ quốc, vì hạnh phúc của Nhân dân, vì hòa bình và công lý cho dân tộc Việt Nam cũng như nhân loại tiến bộ. Chính sự tri ân ấy sẽ trở thành động lực tinh thần, hun đúc lòng yêu nước, ý chí kiên cường và trách nhiệm công dân, để di huấn của Bác mãi mãi soi sáng con đường phát triển của dân tộc.

Di huấn của Chủ tịch Hồ Chí Minh về thương binh, liệt sĩ và thân nhân của họ không chỉ là lời nhắc nhở mang tính đạo lý, mà còn là định hướng chiến lược cho sự phát triển bền vững của đất nước. Người đã đặt nền móng cho một xã hội nhân ái, công bằng, nơi sự hy sinh được tri ân bằng hành động cụ thể và thiết thực. Gần 60 năm đã trôi qua, nhưng những lời căn dặn chí tình ấy vẫn còn nguyên giá trị, soi sáng con đường chúng ta đi hôm nay và mai sau.

Thực hiện tốt chính sách “đền ơn đáp nghĩa” đối với người có công, khuyến khích tinh thần tự lực vươn lên, và giáo dục truyền thống cho thế hệ trẻ chính là cách để chúng ta tiếp nối và lan tỏa đạo lý “uống nước nhớ nguồn”. Đó cũng là sự khẳng định rằng, trong mọi bước phát triển kinh tế – xã hội, chúng ta luôn đặt con người vào vị trí trung tâm, để xây dựng một Việt Nam hòa bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh như Bác hằng mong ước.

 

[2] Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV, Sđd, t.I, tr. 52

[3] Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV, Sđd, t.II, tr. 275

[4] Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV, Sđd, t.II, tr. 275

[5] Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV, Sđd, t. I, tr.165

[6] Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV, Sđd, t. I,, tr.165

[7] Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV, Sđd, t. I, tr.309

[8] Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV, Sđd, t. II, tr.396