Trong bối cảnh đất nước bước vào giai đoạn phát triển mới, việc bồi đắp các giá trị dân tộc, dân chủ, nhân văn và khoa học không chỉ góp phần nâng cao bản lĩnh văn hóa của con người Việt Nam mà còn tạo nền tảng bền vững cho công tác bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng.

Văn hóa và nền tảng tư tưởng của Đảng thẩm thấu trong đời sống cộng đồng. Ảnh minh họa: Báo Tiền Phong.

Trong bối cảnh mới, công tác bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng không chỉ là nhiệm vụ lý luận mà đã trở thành cuộc đấu tranh toàn diện, đặc biệt là trên lĩnh vực văn hóa. Thực tiễn cho thấy, sức đề kháng của xã hội trước các tư tưởng ngoại lai không chỉ nằm ở khả năng phản bác luận điệu sai trái, mà cốt lõi là ở độ bền vững của các giá trị văn hóa được bảo tồn và phát huy hàng ngày. Với ý nghĩa đó, hệ giá trị văn hóa Việt Nam (với các trụ cột: dân tộc, dân chủ, nhân văn, khoa học) chính là “hệ miễn dịch” tự nhiên, giúp mỗi cá nhân tự sàng lọc và đề kháng hiệu quả.

Hệ giá trị văn hóa: Cơ sở quan trọng trong hiện thực hóa nền tảng tư tưởng của Đảng

Thực tiễn lịch sử và quá trình phát triển lý luận khẳng định rằng, nền tảng tư tưởng của Đảng (chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh) không tồn tại biệt lập mà được hình thành, bồi đắp trong mối liên hệ hữu cơ với dòng chảy văn hóa dân tộc và tinh hoa nhân loại: “Nền tảng tư tưởng của Đảng ta không phải tự nhiên mà có, không phải là sản phẩm chủ quan duy ý chí… mà là một hệ thống tư tưởng, quan điểm được xây dựng một cách khoa học, phù hợp với hoàn cảnh lịch sử dân tộc, luôn được bổ sung để phù hợp với thực tiễn phát triển của đất nước”[1]. Và văn hóa, với tư cách là nền tảng tinh thần xã hội, giữ vai trò định hình thế giới quan, nhân sinh quan và hệ chuẩn mực hành vi con người. Một hệ tư tưởng chỉ có thể bám rễ sâu và trở thành niềm tin tự giác của quần chúng khi nó hòa quyện với những giá trị văn hóa bền vững; ngược lại, nếu xa rời gốc rễ văn hóa, lý luận dù đúng đắn cũng khó thẩm thấu vào đời sống. Trong bối cảnh hiện nay, hệ giá trị văn hóa Việt Nam chính là cơ chế trọng yếu để hiện thực hóa nền tảng tư tưởng của Đảng. Thông qua chuỗi chuyển hóa từ tư tưởng thành giá trị, từ giá trị thành chuẩn mực và từ chuẩn mực thành hành vi xã hội, hệ giá trị văn hóa trở thành “kênh dẫn” tự nhiên, hình thành một “hệ miễn dịch” toàn diện giúp bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng một cách chủ động, bền vững: “Trong lĩnh vực văn hoá - xã hội, việc hình thành, hoàn thiện hệ giá trị quốc gia, hệ giá trị văn hoá và con người Việt Nam sẽ đóng vai trò định hướng, thống nhất ý chí, tình cảm và định hướng phát triển bền vững của đất nước”[2].

Thứ nhất, giá trị dân tộc xác lập căn tính, bản lĩnh và “hộ chiếu văn hóa” quốc gia. Được nuôi dưỡng từ mạch nguồn truyền thống văn hiến lâu đời, giá trị dân tộc thể hiện ở ý chí độc lập, tự chủ gắn với khả năng chủ động tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại để làm giàu và nâng tầm bản sắc văn hóa dân tộc trong thời đại hội nhập. Giá trị này chính là điểm tựa tinh thần giúp con người Việt Nam đứng vững trước các tác động ngoại lai, đồng thời bồi đắp lòng tự hào dân tộc và củng cố sức đề kháng trước những luận điệu xuyên tạc về văn hóa, lịch sử và thành quả cách mạng.

Thứ hai, giá trị dân chủ tạo nên tính chính danh và sự thuyết phục. Giá trị dân chủ trong văn hóa Việt Nam được hình thành từ sớm, thể hiện qua truyền thống “lấy dân làm gốc”, coi trọng vai trò và tiếng nói của cộng đồng trong đời sống xã hội. Đây là nền tảng quan trọng để xây dựng Nhà nước của dân, do dân và vì dân. Dưới sự lãnh đạo của Đảng, dân chủ gắn liền với kỷ cương chính là lời giải cho sức sống của mô hình chính trị Việt Nam. Khi phương châm “Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng” được thực thi thực chất, mọi luận điệu về “đa nguyên, đa đảng” hay “phi chính trị” đều trở nên lạc lõng. Dân chủ góp phần củng cố niềm tin xã hội đối với vai trò lãnh đạo của Đảng.

Thứ ba, giá trị nhân văn tạo nên “chất keo” gắn kết ý Đảng với lòng dân. Thể hiện ở tinh thần đề cao con người, lòng nhân ái, khoan dung, nghĩa tình và khát vọng hướng tới những giá trị chân - thiện - mỹ, giá trị này chuyển hóa lý luận thành những hành động tình nghĩa, khiến nhân dân tin yêu và tự nguyện bảo vệ Đảng. Sự nhân văn, cả trong đời sống thường nhật cũng như trong thực thi chính sách không chỉ nuôi dưỡng đạo đức xã hội mà còn tạo ra sự đồng thuận cao độ. Đây là “bức trường thành” vững chắc nhất trước mọi âm mưu chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc.

Thứ tư, giá trị khoa học tạo nên “bộ lọc” trí tuệ và tư duy biện chứng. Trong văn hóa Việt Nam, giá trị này thể hiện ở tinh thần tôn trọng quy luật khách quan, đề cao lý trí, tính hệ thống, năng lực nhận thức đúng đắn hiện thực và khả năng bồi dưỡng tri thức, nâng cao trí lực cho con người đáp ứng yêu cầu của thời đại mới. Với đặc trưng này, nó trang bị cho chủ thể khả năng nhận diện và sàng lọc thông tin; giúp đảng viên và nhân dân tiếp nhận, đánh giá vấn đề bằng logic trí tuệ thay vì cảm xúc nhất thời. Quan trọng hơn, nó cung cấp cơ sở lý luận vững chắc cho việc khẳng định tính đúng đắn, cách mạng và khoa học của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; giúp nền tảng tư tưởng của Đảng không rơi vào vòng xoáy giáo điều, xơ cứng… mà hiện hữu, phát triển đúng bản chất của một học thuyết khoa học, luôn tươi mới và đủ sức giải quyết các vấn đề thời đại.

Xây dựng hệ giá trị văn hóa Việt Nam như một chiến lược bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng

Xét về bản chất, bốn giá trị dân tộc, dân chủ, nhân văn và khoa học không tồn tại tách biệt mà tạo thành một chỉnh thể thống nhất. Nếu giá trị dân tộc tạo nên bản lĩnh văn hóa, giá trị dân chủ củng cố sự đồng thuận xã hội, giá trị nhân văn nuôi dưỡng niềm tin và sự gắn kết cộng đồng thì giá trị khoa học cung cấp năng lực nhận thức đúng đắn. Sự kết hợp của bốn giá trị này tạo thành nền tảng tinh thần giúp xã hội chủ động sàng lọc và đề kháng trước các quan điểm sai trái, thù địch.

Thực tiễn đã cho thấy, nguy cơ đối với nền tảng tư tưởng của Đảng không chỉ đến từ bên ngoài mà còn bắt nguồn từ sự suy yếu bên trong. Vậy nên, bảo vệ nền tảng tư tưởng không chỉ là nhiệm vụ phản bác về lý luận, mà trước hết là quá trình xây dựng và củng cố các giá trị bền vững trong đời sống xã hội. Xây dựng hệ giá trị không chỉ là việc bồi đắp văn hóa, mà phải được nhìn nhận như một chiến lược an ninh tư tưởng từ sớm, từ xa.

Một là, hiện thực hóa hệ giá trị văn hóa thông qua các chuẩn mực hành vi và thiết chế đời sống. Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng không thể chỉ dừng lại ở phản bác, mà phải làm cho cái đúng có sức sống và được cộng đồng lựa chọn. Nghị quyết số 80-NQ/TW đã nêu rõ: “Các thách thức an ninh truyền thống và phi truyền thống, cùng với tác động của cuộc cách mạng khoa học, công nghệ đang làm thay đổi căn bản các chuẩn mực ứng xử và hệ giá trị văn hoá, đặt ra nhu cầu cấp thiết về định vị quốc gia trong trật tự thế giới mới”[3]. Vậy nên, về mặt quy tắc, cần cụ thể hóa hệ giá trị thành các bộ quy tắc ứng xử, đạo đức nghề nghiệp và chuẩn mực “công dân số” để dẫn dắt hành vi của xã hội. Việc lượng hóa này giúp giá trị không còn là khẩu hiệu mà trở thành 'thước đo' có thể kiểm chứng. Về mặt thực hành, khi giá trị dân tộc và dân chủ được hiện thực hóa qua các hoạt động tự quản tại cơ sở và sự minh bạch trong quản lý, các luận điệu kích động sẽ bị vô hiệu hóa bởi thực tế sinh động. Khi giá trị nhân văn và khoa học trở thành nếp sống xã hội, chúng sẽ góp phần nâng cao khả năng nhận diện, phản bác các quan điểm sai trái và phản văn hóa. Bên cạnh đó, hiện thực hóa hệ giá trị phải bắt đầu từ văn hóa công vụ. Cán bộ, đảng viên không chỉ hô khẩu hiệu mà phải là tấm gương của hệ giá trị. Mỗi hành vi chuẩn mực của người cán bộ chính là sự hiện thực hóa sinh động nhất lý tưởng của Đảng, tạo lập những tấm gương tốt để củng cố niềm tin, trực tiếp làm suy yếu các luồng tư tưởng xuyên tạc ngay từ đời sống thường nhật.

Hai là, chú trọng xây dựng văn hóa số và bảo đảm “an ninh văn hóa” trên không gian mạng. Trong bối cảnh chuyển đổi số diễn ra sâu rộng, không gian mạng đã trở thành một môi trường văn hóa đặc thù, đồng thời cũng là “mặt trận” quan trọng trong bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng. Do đó, cần chủ động kiến tạo hệ sinh thái văn hóa số lành mạnh thông qua việc phát triển các sản phẩm truyền thông hiện đại, có chất lượng, mang đậm bản sắc dân tộc nhưng phù hợp với thị hiếu và ngôn ngữ của công chúng, nhất là thế hệ trẻ. Việc lan tỏa các giá trị tích cực, những câu chuyện nhân văn và thành tựu phát triển của đất nước không chỉ góp phần định hướng nhận thức xã hội… mà còn từng bước hình thành “sức đề kháng” trước thông tin sai lệch. Theo phương châm “lấy xây để chống”, khi các giá trị chân thực và tích cực được phổ biến rộng rãi, các quan điểm lệch lạc, phản văn hóa sẽ dần bị thu hẹp không gian tồn tại.

Ba là, phát huy vai trò của gia đình, nhà trường và cộng đồng. Gia đình, nhà trường và cộng đồng là những môi trường nền tảng trong việc hình thành và nuôi dưỡng hệ giá trị văn hóa của mỗi cá nhân. Việc chú trọng giáo dục giá trị ngay từ sớm sẽ góp phần hình thành năng lực tự đề kháng về tư tưởng và văn hóa. Một cá nhân được trưởng thành trong môi trường giàu truyền thống, đượm tính nhân văn, tôn trọng dân chủ và đề cao tư duy khoa học sẽ có khả năng tự phân biệt đúng - sai, chủ động tiếp nhận có chọn lọc trước các luồng thông tin đa chiều. Đồng thời, việc xây dựng môi trường văn hóa lành mạnh trong các cộng đồng dân cư, cơ quan, đơn vị sẽ góp phần lấp đầy những “khoảng trống giá trị”, tăng cường sự gắn kết xã hội và củng cố niềm tin vào các bản chất tốt đẹp của chế độ. Đây chính là căn cốt bền vững để bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng từ sớm, từ xa, một cách tự nhiên và hiệu quả.

Trong bối cảnh hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng và sự phát triển mạnh mẽ của không gian số, việc xây dựng và phát huy hệ giá trị văn hóa Việt Nam không chỉ là yêu cầu phát triển văn hóa mà còn là nhiệm vụ có ý nghĩa chiến lược đối với sự nghiệp bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng. Khi các giá trị dân tộc, dân chủ, nhân văn và khoa học thấm sâu vào đời sống xã hội, chúng sẽ trở thành nguồn lực nội sinh quan trọng, góp phần củng cố niềm tin, tăng cường sức đề kháng tư tưởng và bảo đảm sự phát triển bền vững của đất nước.


[1] Bùi Tiến Sỹ (2024), “Để nền tảng tư tưởng của Đảng trở thành niềm tin, lẽ sống”, Tạp chí Tuyên giáo, số 4/2024, tr. 41.

[2] Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XIV, Nxb Chính trị Quốc gia Sự thật, H, t.II, tr. 244.

[3] Nghị quyết số 80-NQ/TW, ngày 07/01/2026 của Bộ Chính trị về phát triển văn hóa Việt Nam.