Từ Cương lĩnh chính trị đầu tiên (năm 1930) đến đường lối Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV (năm 2026), kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại đã khẳng định giá trị của một chân lý thực tiễn, một quy luật sinh tồn và phát triển của cách mạng Việt Nam và thực tiễn 40 năm Đổi mới là minh chứng sinh động cho việc Đảng nắm vững và vận dụng linh hoạt quy luật đó
Dựa chắc trên nền tảng lý luận Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh
Trong tiến trình phát triển của chủ nghĩa Mác - Lênin, vấn đề kết hợp phong trào cách mạng trong nước với phong trào quốc tế được xác định là một nguyên lý chiến lược xuyên suốt.
Giữa thế kỷ XIX, khi soạn thảo Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản, C.Mác và Ph.Ăng-ghen đã đúc kết khẩu hiệu chiến lược “Vô sản tất cả các nước, đoàn kết lại!”[1], qua đó đặt nền móng cho nguyên lý về sự gắn kết biện chứng giữa cuộc đấu tranh của giai cấp vô sản mỗi dân tộc với phong trào cách mạng quốc tế.
Đến đầu thế kỷ XX, trên cơ sở phân tích bản chất của chủ nghĩa đế quốc, V.I.Lênin đã kế thừa và phát triển học thuyết đó lên tầm cao mới. Người khẳng định phong trào giải phóng dân tộc ở các nước thuộc địa và phụ thuộc là một bộ phận cấu thành khăng khít, không thể tách rời của cách mạng vô sản thế giới[2]. Bước phát triển lý luận này đã mở ra hướng đi chiến lược, tạo cơ sở chính trị - lý luận vững chắc để các dân tộc thuộc địa tranh thủ sự ủng hộ, giúp đỡ từ giai cấp vô sản quốc tế, qua đó rút ngắn đáng kể con đường phát triển lịch sử.
Vận dụng sáng tạo lý luận mác-xít vào thực tiễn cách mạng Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã xác lập một tư duy biện chứng sâu sắc về mối quan hệ giữa nội lực và ngoại lực: độc lập, tự chủ, tự lực, tự cường là nền tảng giữ vai trò quyết định; đoàn kết quốc tế và tranh thủ sự ủng hộ từ bên ngoài là yếu tố quan trọng, có ý nghĩa hỗ trợ to lớn.
Tinh thần ấy được cô đọng trong Thư kêu gọi Tổng khởi nghĩa (tháng 8/1945) khi Người hiệu triệu toàn dân: “đem sức ta mà tự giải phóng cho ta”[3].
Xuyên suốt hai cuộc kháng chiến giải phóng dân tộc, Hồ Chí Minh và Đảng luôn nhất quán chủ trương xây dựng, mở rộng mặt trận nhân dân thế giới đoàn kết, ủng hộ Việt Nam trên cơ sở chiến lược “thêm bạn, bớt thù”, làm cho nước mình “ít kẻ thù hơn hết và nhiều bạn đồng minh hơn hết”.

Người dân tiến bộ Mỹ phản đối cuộc chiến tranh xâm lược của Mỹ tại Việt nam (Ảnh tư liệu)
Sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại - trên nền tảng quyết định là sức mạnh nội sinh - đã tạo nên động lực to lớn đưa tới chiến thắng Điện Biên Phủ năm 1954 và Đại thắng mùa Xuân năm 1975.
Bước sang giai đoạn 1975 - 1986, thực tiễn xây dựng và bảo vệ Tổ quốc đặt ra những bài học kinh nghiệm sâu sắc. Việc duy trì quá lâu cơ chế kế hoạch hóa tập trung, quan liêu, bao cấp, kết hợp với những hạn chế nhất định trong nhận thức và đánh giá xu thế hòa bình, hợp tác của cục diện thế giới, đã trở thành lực cản kìm hãm nguồn lực nội sinh, đẩy đất nước rơi vào cuộc khủng hoảng kinh tế - xã hội trầm trọng.
Tình hình đó đòi hỏi một sự đột phá mang tính tất yếu lịch sử về đổi mới tư duy lý luận, trước hết là tư duy kinh tế và đường lối đối ngoại. Đây chính là tiền đề then chốt đặt nền móng để Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng (tháng 12/1986) khởi xướng công cuộc Đổi mới toàn diện đất nước.
Về phương pháp luận, nguyên tắc lấy nội lực làm gốc bắt nguồn từ một quy luật phổ biến của phép biện chứng duy vật: sự phát triển của sự vật, hiện tượng là kết quả tổng hợp giữa nguyên nhân bên trong và điều kiện bên ngoài, trong đó nguyên nhân bên trong giữ vai trò quyết định, điều kiện bên ngoài chỉ phát huy tác dụng thông qua nguyên nhân bên trong. Đó là căn cứ để Đảng vừa đề cao tinh thần đoàn kết quốc tế, vừa kiên trì nguyên tắc mỗi đảng cộng sản phải độc lập, tự chủ trong hoạch định đường lối, tránh cả chủ nghĩa biệt lập, dân tộc hẹp hòi lẫn tư tưởng ỷ lại, trông chờ vào bên ngoài.
Đổi mới tư duy đối ngoại - hành trình bốn thập kỷ
Đại hội VI của Đảng diễn ra trong bối cảnh đất nước lâm vào khủng hoảng kinh tế - xã hội trầm trọng, tỷ lệ lạm phát đỉnh điểm vượt ngưỡng 700%/năm. Trước yêu cầu sống còn của lịch sử, Đại hội khẳng định cách mạng Việt Nam “phải biết kết hợp sức mạnh của dân tộc với sức mạnh của thời đại trong điều kiện mới”[4], mở đầu tiến trình đổi mới nhận thức một cách toàn diện và sâu sắc.
Bước cụ thể hóa chiến lược diễn ra vào ngày 20/5/1988, khi Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết số 13-NQ/TW về nhiệm vụ và chính sách đối ngoại trong tình hình mới.
Nghị quyết xác định rõ phát triển kinh tế là nhiệm vụ trung tâm, công tác đối ngoại phải phụng sự mục tiêu đó thông qua việc củng cố môi trường hòa bình, từng bước phá thế bao vây, cấm vận[5].
Đây chính là văn kiện mang ý nghĩa bản lề, đánh dấu bước chuyển mang tính lịch sử từ tư duy đối đầu ý thức hệ sang tư duy hòa hoãn, đối thoại, hợp tác và cùng tồn tại hòa bình.
Năm 1991, giữa lúc hệ thống xã hội chủ nghĩa ở Đông Âu và Liên Xô sụp đổ, Đại hội VII thông qua Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, lần đầu chính thức đưa cụm từ “kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại” vào văn kiện có tính cương lĩnh của Đảng[6].
Điểm đột phá về mặt lý luận là ngay khi chỗ dựa truyền thống của “sức mạnh thời đại” (hệ thống các nước xã hội chủ nghĩa) suy giảm nghiêm trọng, Đảng không lúng túng, dao động mà đã chủ động mở rộng, làm sâu sắc thêm nội hàm khái niệm này. “Sức mạnh thời đại” đã được mở rộng thành xu thế hòa bình, hợp tác, phát triển và quá trình toàn cầu hóa kinh tế thế giới.

Việt Nam và Hàn Quốc nâng mức quan hệ lên "Đối tác chiến lược toàn diện", năm 2022 (Ảnh báo tuoitre.vn)
Từ nền tảng đó, tư duy đối ngoại của Đảng tiếp tục được bổ sung qua từng kỳ Đại hội: chủ động hội nhập kinh tế quốc tế (Đại hội VIII, IX), mở rộng hợp tác trên nhiều lĩnh vực (Đại hội X, XI). Nghị quyết số 22-NQ/TW ngày 10/4/2013 đánh dấu bước chuyển từ “hội nhập kinh tế quốc tế” sang “hội nhập quốc tế toàn diện”[7] trên mọi lĩnh vực.
Đến Đại hội XIII, quan điểm về “đối tác” và “đối tượng” được xác định theo hướng biện chứng: trong quan hệ với bất kỳ quốc gia nào cũng có thể tồn tại đồng thời cả yếu tố hợp tác và đấu tranh, tùy từng vấn đề, từng thời điểm cụ thể[8].
Đại hội XIV (tháng 01/2026), đánh dấu tròn 40 năm đổi mới, nâng quan điểm này thành một quan điểm chỉ đạo lớn, xuyên suốt, gắn với nguyên tắc bảo vệ Tổ quốc “từ sớm, từ xa”[9].
Trường phái “ngoại giao cây tre Việt Nam” - gốc vững là lợi ích quốc gia - dân tộc và độc lập, tự chủ; thân chắc là sức mạnh đại đoàn kết và tiềm lực kinh tế, quốc phòng; cành uyển chuyển là sự linh hoạt về sách lược - tiếp tục là nguyên tắc của nền đối ngoại Việt Nam trong giai đoạn mới.
Nội hàm của khái niệm “sức mạnh thời đại” liên tục được bổ sung và hoàn thiện theo từng bước phát triển của cục diện thế giới. Nếu trong những năm đầu công cuộc Đổi mới, nhân tố này gắn liền chủ yếu với việc khai thông các nguồn lực tài chính và mở rộng không gian thị trường, thì trong bối cảnh hiện nay đã vươn tầm sang kinh tế số, kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn cùng vấn đề chủ quyền dữ liệu quốc gia. Bước phát triển này khẳng định tính năng động, sáng tạo và năng lực tự đổi mới lý luận của Đảng trước một thế giới vận động mau lẹ, phức tạp và khó đoán định.
Kết hợp sức mạnh dân tộc và sức mạnh thời đại - những kết quả trong thực tiễn
Về chính trị - đối ngoại, từ một quốc gia từng bị bao vây, cấm vận sau năm 1975, Việt Nam đến nay đã thiết lập quan hệ ngoại giao với 195 quốc gia và vùng lãnh thổ, có 14 đối tác chiến lược toàn diện, trong đó có khuôn khổ hợp tác cao nhất với cả 5 nước Ủy viên thường trực Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc[10]. Việt Nam đã hai lần đảm nhiệm vai trò Ủy viên không thường trực Hội đồng Bảo an, nhiều lần giữ vai trò Chủ tịch ASEAN, Chủ tịch APEC.
Về kinh tế, tốc độ tăng trưởng GDP bình quân 40 năm đổi mới đạt trên 6,5%/năm, thuộc nhóm cao nhất thế giới; riêng năm 2025, GDP tăng 8,02%, quy mô nền kinh tế vượt mốc 514 tỷ USD, dẫn đầu khu vực Đông Nam Á[11]. Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài đạt lũy kế gần 503 tỷ USD vốn đăng ký tính đến cuối năm 2024, trong khi doanh nghiệp Việt Nam cũng đã đầu tư ra nước ngoài với hơn 1.800 dự án[12].
Về khoa học - công nghệ, chuyển đổi số, Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 xác định đây là “yếu tố quyết định phát triển của các quốc gia; là điều kiện tiên quyết, thời cơ tốt nhất để nước ta phát triển giàu mạnh, hùng cường trong kỷ nguyên mới”[13]. Năm 2025, kinh tế số chiếm 14,02% GDP, tương đương khoảng 72,1 tỷ USD, tăng gần gấp rưỡi so với năm 2021[14]; công nghiệp bán dẫn có bước khởi động với việc Viettel khởi công nhà máy chế tạo chip công nghệ cao đầu tiên của Việt Nam tại Khu công nghệ cao Hòa Lạc.
Về văn hóa - xã hội, Việt Nam hiện có 9 di sản được UNESCO công nhận là Di sản thế giới và 15 di sản văn hóa phi vật thể đại diện nhân loại. Tỷ lệ hộ nghèo đa chiều giảm liên tục, còn 1,3% năm 2025[15], được các tổ chức quốc tế xếp vào nhóm thành công tiêu biểu về giảm nghèo gắn với tăng trưởng bao trùm. Về quốc phòng - an ninh, Việt Nam kiên trì chính sách quốc phòng hòa bình, tự vệ với nguyên tắc “bốn không”, đồng thời cử lực lượng tham gia gìn giữ hòa bình Liên hợp quốc tại nhiều địa bàn ở châu Phi.
Đặt trong tương quan khu vực, mức tăng trưởng GDP năm 2025 của Việt Nam cao hơn đáng kể so với Indonesia hay Thái Lan, trong khi nhịp độ mở rộng quan hệ đối tác chiến lược toàn diện và giảm nghèo được giới quan sát quốc tế đánh giá hiếm có tiền lệ. Đó là kết quả của một quá trình cộng hưởng hai chiều: sức mạnh dân tộc tạo nền tảng để tranh thủ sức mạnh thời đại, còn sức mạnh thời đại được nội sinh hóa thành năng lực, thể chế và con người của chính đất nước.
Một số bài học kinh nghiệm và yêu cầu của kỷ nguyên phát triển mới
Bốn mươi năm đổi mới để lại một số bài học kinh nghiệm sâu sắc về kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại. Đó là kiên định nguyên tắc lấy nội lực làm gốc, ngoại lực là quan trọng, kết hợp biện chứng với nội lực - nguyên tắc bắt nguồn trực tiếp từ phương châm “đem sức ta mà giải phóng cho ta”; thường xuyên đổi mới tư duy về đặc điểm, xu thế thời đại, tránh cả giáo điều, bảo thủ lẫn nóng vội, duy ý chí; kiên trì đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, đa dạng hóa, đa phương hóa theo tinh thần “dĩ bất biến, ứng vạn biến”; phát huy sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị, gắn kết đối ngoại Đảng, ngoại giao Nhà nước, đối ngoại Quốc hội và đối ngoại nhân dân; và trên hết, kiên định đặt lợi ích quốc gia - dân tộc lên trước hết, hài hòa với việc thực hiện nghĩa vụ, trách nhiệm quốc tế.
Bên cạnh thành tựu to lớn đó, quá trình kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại trong 40 năm đổi mới vẫn còn những hạn chế và vấn đề đặt ra. Đó là, hiệu quả chuyển hóa từ dòng vốn đầu tư nước ngoài sang nội lực bền vững của nền kinh tế chưa tương xứng tiềm năng; năng suất lao động, trình độ công nghệ còn khoảng cách so với yêu cầu phát triển; cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn ngày càng phức tạp, đòi hỏi bản lĩnh và nghệ thuật xử lý các mối quan hệ ngày càng phải khéo léo, tinh tế.
Từ một đất nước bị bao vây, cấm vận, khủng hoảng kinh tế - xã hội giữa thập niên 1980, Việt Nam hôm nay là một nền kinh tế thuộc nhóm hàng đầu Đông Nam Á, với mạng lưới quan hệ đối ngoại ngày càng sâu rộng. Thành quả đó kết tinh từ bản lĩnh giữ vững độc lập, tự chủ, lấy sức mạnh nội sinh làm gốc, đồng thời không ngừng đổi mới tư duy để nắm bắt cơ hội của thời đại.
Bước vào kỷ nguyên phát triển mới của dân tộc, với mục tiêu đến năm 2030 trở thành nước đang phát triển có công nghiệp hiện đại, thu nhập trung bình cao, và đến năm 2045 trở thành nước phát triển, thu nhập cao, việc kiên định kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại tiếp tục là một trong những chìa khóa để đất nước vững bước trên con đường phát triển phồn vinh, hạnh phúc.
[1]C.Mác và Ph.Ăng-ghen: “Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản” (02/1848), in trong C.Mác và Ph.Ăng-ghen: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t.4.
[2] TS. Trịnh Thị Hoa: “Sơ thảo lần thứ nhất những luận cương về vấn đề dân tộc và vấn đề thuộc địa của V.I.Lênin và con đường giải phóng dân tộc của Nguyễn Ái Quốc”, lyluanchinhtri.vn, 2017.
[3]Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia - Sự thật, Hà Nội, 2011, t.3, tr.596.
[4]Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2025, t.47, tr.549.
[5]Nghị quyết số 13-NQ/TW ngày 20/5/1988 của Bộ Chính trị (khóa VI) về nhiệm vụ và chính sách đối ngoại trong tình hình mới.
[6]Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2025, t.51, tr.114.
[7]Nghị quyết số 22-NQ/TW ngày 10/4/2013 của Bộ Chính trị về hội nhập quốc tế.
[8]GS,TS. Phạm Quang Minh - TS. Nguyễn Hồng Hải: “Vấn đề 'đối tác' và 'đối tượng' trong Văn kiện Đại hội XIII của Đảng: Từ nhận thức đến thực tế”, tapchicongsan.org.vn, 6/2021.
[9]Cổng Thông tin điện tử Chính phủ: “Toàn văn Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng”, baochinhphu.vn, 2026.
[10]Bộ Ngoại giao Việt Nam: “Chặng đường 80 năm vẻ vang của nền ngoại giao Việt Nam”, mofa.gov.vn, 2025; Vietnam+: “14 nước có quan hệ Đối tác chiến lược toàn diện với Việt Nam...”, vietnamplus.vn, 2025.
[11]Tổng cục Thống kê (nay là Cục Thống kê - Bộ Tài chính): “Báo cáo tình hình kinh tế - xã hội quý IV và năm 2025”, nso.gov.vn.
[12]Cục Đầu tư nước ngoài, Bộ Kế hoạch và Đầu tư (nay là Bộ Tài chính), dẫn theo Báo Thương hiệu và Công luận, thuonghieucongluan.com.vn, 2025.
[13]Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia.
[14]Tổng cục Thống kê (nay là Cục Thống kê - Bộ Tài chính): “Thông cáo báo chí tỷ trọng giá trị tăng thêm của kinh tế số trong GDP, GRDP giai đoạn 2021-2025”, nso.gov.vn, 2026.
[15]Báo Nhân Dân điện tử, nhandan.vn, 2025.
