Phương thức lãnh đạo, cầm quyền của Đảng là một nội dung rất quan trọng của công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng, có vai trò quyết định đối với sự phát triển nhanh và bền vững của đất nước. Trong quá trình lãnh đạo cách mạng Việt Nam, nhất là thời kỳ đổi mới, Đảng ta không ngừng bổ sung, phát triển nhận thức lý luận về đổi mới phương thức lãnh đạo, cầm quyền của Đảng.

Tháng 3/1989, tại Hội nghị Trung ương 6 khóa VI, lần đầu tiên Đảng ta chính thức sử dụng khái niệm “phương thức lãnh đạo”. Từ sau Đại hội VII (năm 1991) trở đi, trong các văn kiện của Đảng, khái niệm “phương thức lãnh đạo” được dùng phổ biến. Trong Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (gọi tắt là Cương lĩnh 1991), Đảng ta đã chỉ ra những điểm chủ yếu của hoạt động lãnh đạo của Đảng: “Đảng lãnh đạo xã hội bằng cương lĩnh, chiến lược, các định hướng về chính sách và chủ trương công tác; bằng công tác tuyên truyền, thuyết phục, vận động, tổ chức, kiểm tra và bằng hành động gương mẫu của Đảng viên”1. Đến Hội nghị giữa nhiệm kỳ khóa VII, Đảng bổ sung thêm một điểm rất quan trọng: “Đảng lãnh đạo thông qua tổ chức đảng chứ không chỉ thông qua cá nhân đảng viên”2. Điều này thể hiện bước phát triển tư duy về sự lãnh đạo của Đảng trong thời kỳ đổi mới.

Sau 10 năm thực hiện đường lối đổi mới, Đại hội lần thứ VIII (năm1996), Đảng ta xác định nội dung đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng là một trong những nhiệm vụ trọng tâm cần thực hiện tốt trong những năm tới: “Đảng lãnh đạo hệ thống chính trị; đề ra đường lối, chính sách xây dựng và phát triển đất nước; nắm vững tổ chức và cán bộ để bảo đảm thực hiện có kết quả đường lối của Đảng. Đảng lãnh đạo thông qua tổ chức Đảng chứ không chỉ thông qua cá nhân đảng viên; lãnh đạo bằng các quyết định của tập thể và bằng cách theo dõi, cho ý kiến chỉ đạo, kiểm tra việc thực hiện, khuyến khích những mặt tốt, uốn nắn những lệch lạc. Đảng lãnh đạo phát huy mạnh mẽ vai trò và hiệu lực của Nhà nước chứ không điều hành thay Nhà nước. Đảng và mọi đảng viên đều hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp, pháp luật và chịu trách nhiệm về các hoạt động của mình”3.

Tại Đại hội IX (năm 2001), Đảng xác định nội dung đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng: “Tăng cường vai trò lãnh đạo và tiếp tục đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước. Đảng lãnh đạo Nhà nước thông qua việc đề ra đường lối, chủ trương, các chính sách lớn, định hướng cho sự phát triển và kiểm tra việc tổ chức thực hiện đường lối, chủ trương của Đảng và Hiến pháp, pháp luật của Nhà nước…”4. Đến Đại hội lần thứ X (năm 2006), Đảng ta xác định: “Nghiên cứu, tổng kết, tiếp tục làm rõ quan điểm về Đảng lãnh đạo và Đảng cầm quyền làm cơ sở đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng một cách cơ bản, toàn diện”5. Hội nghị lần thứ 5 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa X đã ban hành Nghị quyết số 15-NQ/TW, ngày 30/7/2007 về “Tiếp tục đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng đối với hoạt động của hệ thống chính trị”, Đảng ta nhấn mạnh: “Tiếp tục đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng đối với hoạt động của hệ thống chính trị, nhằm giữ vững và tăng cường vai trò lãnh đạo, nâng cao tính khoa học, năng lực và hiệu quả lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước và toàn xã hội, sự gắn bó mật thiết giữa Đảng với nhân dân; nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước, chất lượng hoạt động của Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể chính trị - xã hội; phát huy dân chủ, quyền làm chủ của nhân dân…”.

Sau đó, Đảng ta tiếp tục bổ sung nhiều nội dung mới và khái quát những nội hàm chủ yếu trong phương thức lãnh đạo, cầm quyền của Đảng, được thể hiện rõ trong Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011), Đảng ta khẳng định: “Đảng Cộng sản Việt Nam là Đảng cầm quyền, lãnh đạo Nhà nước và xã hội”6. Đồng thời, Đảng khẳng định: “Đảng lãnh đạo bằng cương lĩnh, chiến lược, các định hướng về chính sách và chủ trương lớn; bằng công tác tuyên truyền, thuyết phục, vận động, tổ chức, kiểm tra, giám sát và bằng hành động gương mẫu của đảng viên… Đảng lãnh đạo thông qua tổ chức đảng và đảng viên hoạt động trong các tổ chức của hệ thống chính trị, tăng cường chế độ trách nhiệm cá nhân, nhất là người đứng đầu”7. Trong phần phương hướng, giải pháp xây dựng Đảng những năm tới, Đại hội lần thứ XI (năm 2011), Đảng ta tiếp tục xác định: “Tăng cường nghiên cứu lý luận, tổng kết thực tiễn, làm sáng tỏ một số vấn đề về đảng cầm quyền”8.

Trên cơ sở tổng kết 30 năm đổi mới, Đại hội lần thứ XII (năm 2016), Đảng ta tiếp tục khẳng định: “Nâng cao hiệu quả thực hiện và tiếp tục đổi mới mạnh mẽ phương thức lãnh đạo của Đảng đối với hệ thống chính trị, đặc biệt là với Nhà nước… Tiếp tục đổi mới phương thức lãnh đạo trong hệ thống tổ chức của Đảng; đổi mới phương pháp, phong cách, lề lối làm việc của các cơ quan lãnh đạo của Đảng từ Trung ương tới cơ sở, xây dựng phong cách làm việc khoa học, tập thể, dân chủ, gần dân, trọng dân, vì dân, bám sát thực tiễn, nói đi đôi với làm”9.

Trong Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII (năm 2021), Đảng ta đánh giá: “Phương thức lãnh đạo của Đảng tiếp tục được đổi mới. Ban hành và thực hiện nhiều quy định bảo đảm giữ vững vai trò lãnh đạo của Đảng... Đổi mới cách học tập, quán triệt nghị quyết, coi trọng việc lãnh đạo, chỉ đạo tổ chức thực hiện, tăng cường công tác kiểm tra, giám sát, sơ kết, tổng kết việc thực hiện nghị quyết của Đảng”10. Đồng thời, Đảng cũng chỉ rõ: “Phương thức lãnh đạo của Đảng đối với hệ thống chính trị còn chậm đổi mới, có mặt còn lúng túng. Cơ chế kiểm soát quyền lực trong Đảng và Nhà nước chưa đầy đủ, đồng bộ; hiệu lực, hiệu quả chưa cao”11. Từ đó, Đảng xác định: “Tiếp tục đổi mới mạnh mẽ phương thức lãnh đạo của Đảng trong điều kiện mới”12.

Nhằm cụ thể hóa Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng, tại Hội nghị lần thứ 6 Ban Chấp hành Trung ương Đảng đã ban hành Nghị quyết số 28-NQ/TW ngày 17/11/2022 về “Tiếp tục đổi mới phương thức lãnh đạo, cầm quyền của Đảng đối với hệ thống chính trị trong giai đoạn mới”. Nghị quyết số 28-NQ/TW đã đánh giá 15 năm thực hiện Nghị quyết số 15-NQ/TW của Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa X), ngày 30/7/2007 về “Tiếp tục đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng đối với hoạt động của hệ thống chính trị”. Từ đó, Nghị quyết đã xác định quan điểm, mục tiêu tiếp tục đổi mới phương thức lãnh đạo, cầm quyền của Đảng đối với hệ thống chính trị trong giai đoạn mới, đặc biệt đưa ra sáu nhóm nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm: Đổi mới, nâng cao chất lượng ban hành và tổ chức thực hiện đạt hiệu quả cao chủ trương, đường lối của Đảng; Đổi mới, nâng cao hiệu quả công tác tuyên truyền, vận động; Đổi mới, nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác tổ chức, cán bộ; Đổi mới, nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác kiểm tra, giám sát; Phát huy vai trò, trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên; Đẩy mạnh cải cách hành chính, phong cách lãnh đạo, phương pháp công tác, lề lối làm việc của các cơ quan lãnh đạo của Đảng từ Trung ương tới cơ sở.

Mới đây nhất, trong Văn kiện Đại hội lần thứ XIV (năm 2026), Đảng ta khẳng định: “Tăng cường xây dựng, chỉnh đốn, tự đổi mới để Đảng ta thật sự “là đạo đức, là văn minh”; nâng tầm và nâng cao hiệu lực, hiệu quả lãnh đạo, cầm quyền và sức chiến đấu của Đảng”13. Trên cơ sở đánh giá thực trạng công tác xây dựng Đảng nhiệm kỳ Đại hội XIII, Đảng ta xác định các nhiệm vụ, giải pháp công tác xây dựng Đảng nhiệm kỳ Đại hội XIV, trong đó nhấn mạnh: “Tiếp tục đổi mới mạnh mẽ phương thức lãnh đạo, cầm quyền của Đảng”14. Cụ thể: Đẩy mạnh tổng kết thực tiễn, nghiên cứu lý luận về Đảng cầm quyền trên cơ sở khoa học, dân chủ, hiệu quả, thiết thực, sát thực tiễn cách mạng Việt Nam và xu thế thời đại, giữ vững nguyên tắc Đảng Cộng sản Việt Nam là đảng duy nhất cầm quyền ở Việt Nam. Đổi mới, nâng cao chất lượng ban hành và tổ chức thực hiện đạt hiệu quả cao nhất các chủ trương, đường lối của Đảng theo hướng rõ trọng tâm, bảo đảm nghị quyết thực sự đi vào cuộc sống. Tập trung củng cố, nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của tổ chức đảng và chất lượng đội ngũ đảng viên. Nêu gương phải thực sự trở thành một nội dung quan trọng trong phương thức lãnh đạo của Đảng. Đẩy mạnh cải cách hành chính, chuyển đổi số trong Đảng.

Có thể thấy rằng, qua các kỳ đại hội (từ Đại hội VI đến Đại hội XIV), quan điểm của Đảng về đổi mới phương thức lãnh đạo, cầm quyền của Đảng không ngừng được bổ sung, phát triển cả về chiều rộng lẫn chiều sâu. Báo cáo tổng kết một số vấn đề lý luận và thực tiễn về công cuộc đổi mới theo định hướng xã hội chủ nghĩa trong 40 năm qua ở Việt Nam đã đánh giá: “Từ nhận thức còn giản đơn về phương thức lãnh đạo, 40 năm qua, nhận thức của Đảng về phương thức lãnh đạo của Đảng trong điều kiện Đảng cầm quyền đã có bước tiến lớn”15.

-----------------

(1) Đảng Cộng sản Việt Nam (1991), Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, tr.21

(2) Đảng Cộng sản Việt Nam (1994), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc giữa nhiệm kỳ khóa VII, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, tr.63

(3) Đảng Cộng sản Việt Nam (2015), Văn kiện Đảng: Toàn tập, tập 55, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, tr.423-424

(4) Đảng Cộng sản Việt Nam (2016), Văn kiện Đảng: Toàn tập, tập 60, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, tr.226

(5) Đảng Cộng sản Việt Nam (2006), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, tr.306

(6) Đảng Cộng sản Việt Nam (2011), Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (Bổ sung, phát triển năm 2011), Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, tr.88

(7) Đảng Cộng sản Việt Nam (2011), Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (Bổ sung, phát triển năm 2011), Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, tr.88

(8) Đảng Cộng sản Việt Nam (2011), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, tr.255

(9) Đảng Cộng sản Việt Nam (2016), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, tr.214-216

(10), (11), (12) Đảng Cộng sản Việt Nam (2021), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, tập I, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, tr.76-77; tr.93; tr.196

(13), (14) Đảng Cộng sản Việt Nam (2026), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV, tập I, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, tr.130; tr.416

(15) Đảng Cộng sản Việt Nam (2026), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV, tập II, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, tr.99