
Tư tưởng vượt thời đại của nhà cải cách yêu nước thế kỷ XX
Phan Châu Trinh (sinh năm 1872, mất năm 1926) trong một gia đình có truyền thống tại làng Tây Lộc, huyện Tiên Phước, phủ Tam Kỳ, tỉnh Quảng Nam cũ (nay là xã Tây Hồ, thành phố Đà Nẵng). Ông là nhà văn, nhà chí sĩ yêu nước nổi tiếng tại thế kỷ XX. Từ những năm đầu thế kỷ XX, trước bối cảnh nước mất nhà tan, Phan Châu Trinh đã nhận ra cái yếu nhất của dân tộc mình chính là trình độ nhận thức, văn hóa và khoa học - kỹ thuật còn thấp kém, lạc hậu. Không giống như một số sĩ phu đương thời chủ trương dùng bạo lực vũ trang, cụ chọn con đường “khai sáng” mang tính căn cơ, bất bạo động và công khai minh bạch [2].
Ông quan niệm, việc xóa bỏ lối học tầm chương trích cú, mở trường dạy chữ Quốc ngữ, truyền bá kiến thức khoa học thực dụng và bài trừ các hủ tục xa hoa, mê tín dị đoan chính là trọng tâm của công cuộc “khai dân trí” lúc bấy giờ. Ông chủ trương giáo dục ý thức công dân, xây dựng những cá nhân độc lập, tự chủ và am hiểu quyền lợi cũng như nghĩa vụ của mình. Phan Châu Trinh nhận định sâu sắc rằng, chỉ có nâng cao trí tuệ và đạo đức, phát triển kinh tế để tự lực tự cường thì dân tộc mới có thể hội nhập vào thế giới văn minh, từ đó mưu cầu một nền độc lập chân chính và lâu bền.
Tư tưởng “khai dân trí” của Phan Châu Trinh đến nay vẫn giữ nguyên giá trị thời sự, bởi đã chỉ ra đúng căn nguyên của sự tụt hậu và con đường phát triển bền vững của dân tộc. Kết quả tại Hội nghị tổng kết các nội dung về giáo dục và đào tạo trong Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2021-2025, định hướng giai đoạn 2026-2030; kết hợp với Hội thảo đánh giá tình hình thực hiện các chỉ tiêu về giáo dục và đào tạo trong Bộ tiêu chí quốc gia về nông thôn mới các cấp giai đoạn 2021-2025 và đề xuất giai đoạn 2026-2030 do Bộ Giáo dục và Đào tạo tổ chức vào tháng 9/2025 tại Đà Nẵng cho thấy, tính đến năm 2025, tỷ lệ người biết chữ trong độ tuổi 15-60 đã đạt tới 99,1%, vượt xa mức bình quân của thế giới [3]. Mặc dù đất nước đã đạt nhiều thành tựu quan trọng, song nhận thức xã hội ở một bộ phận người dân còn hạn chế; tư duy sản xuất và tiếp cận tri thức ở một số nơi chưa theo kịp yêu cầu phát triển. Điều đó đòi hỏi tiếp tục chuyển đổi mạnh mẽ về tư duy theo hướng khoa học, hiện đại và hội nhập.
Đáng chú ý, nội hàm “dân trí” đã có sự phát triển toàn diện. Nếu trước đây chủ yếu là xóa mù chữ, thì ngày nay còn bao gồm năng lực công nghệ, khả năng tham gia môi trường số, hiểu biết pháp luật và năng lực phản biện xã hội. Đây là những tiêu chí quan trọng của con người trong kỷ nguyên số.
Có thể khẳng định, “khai dân trí” không phải là nhiệm vụ có điểm kết thúc mà là quá trình liên tục. Đây chính là nền tảng để nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, phát huy nội lực dân tộc và hiện thực hóa mục tiêu phát triển nhanh, bền vững trong thời kỳ mới.
Công cuộc đổi mới sáng tạo của dân tộc trong kỷ nguyên mới
Tư tưởng “khai dân trí, chấn dân khí, hậu dân sinh” của Phan Châu Trinh không chỉ mang giá trị lịch sử mà còn có ý nghĩa định hướng sâu sắc đối với công cuộc đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia hiện nay. Nghị quyết số 57-NQ/TW của Bộ Chính trị xác định mục tiêu đổi mới sáng tạo của Việt Nam theo hai giai đoạn cụ thể. Trước hết, đến năm 2030, Việt Nam phấn đấu nâng cao tiềm lực và trình độ đổi mới sáng tạo, vươn lên nhóm các quốc gia dẫn đầu trong nhóm nước có thu nhập trung bình cao, đạt mức tiên tiến ở nhiều lĩnh vực. Đồng thời, năng lực đổi mới sáng tạo của khu vực doanh nghiệp được cải thiện rõ rệt, với tỷ lệ doanh nghiệp có hoạt động đổi mới sáng tạo đạt trên 40%. Bên cạnh đó, định hướng đến năm 2045, đổi mới sáng tạo được phát triển bền vững, góp phần đưa Việt Nam trở thành quốc gia phát triển có thu nhập cao, đồng thời hướng tới mục tiêu nằm trong nhóm 30 quốc gia dẫn đầu thế giới về đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số [1].
Trong bối cảnh đất nước bước vào kỷ nguyên phát triển mới, tinh thần “khai dân trí” cần được nhận thức như một yêu cầu cấp thiết nhằm nâng cao nhận thức xã hội, tạo nền tảng cho phát triển bền vững. Điều này hoàn toàn phù hợp với tinh thần của Nghị quyết số 57-NQ/TW về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia [1], được thể hiện rõ ở 04 điểm cơ bản sau:
Thứ nhất, “khai dân trí” đặt ra yêu cầu đột phá về tư duy và hoàn thiện thể chế. Đảng và Nhà nước xác định yêu cầu đổi mới mạnh mẽ tư duy trong xây dựng pháp luật, hướng tới loại bỏ các rào cản, khắc phục quan niệm “không quản được thì cấm”, đồng thời coi hoàn thiện thể chế là điều kiện tiên quyết, cần đi trước một bước nhằm tạo nền tảng và động lực thúc đẩy đổi mới sáng tạo. Đây chính là sự kế thừa trực tiếp tư tưởng cải cách, bài trừ lối cũ lạc hậu mà Phan Châu Trinh đã đề xướng.
Thứ hai, “khai dân trí” trong giai đoạn hiện nay được cụ thể hóa bằng việc phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, đặc biệt là nhân lực số; nhấn mạnh yêu cầu chú trọng đào tạo, trọng dụng nhân tài, coi con người là trung tâm, là động lực của phát triển. Điều này phản ánh rõ sự chuyển hóa từ “mở mang tri thức” sang xây dựng đội ngũ nhân lực có năng lực đổi mới sáng tạo, đáp ứng yêu cầu của nền kinh tế tri thức.
Thứ ba, tinh thần tự lực, tự cường trong tư tưởng Phan Châu Trinh được kế thừa và phát triển thành yêu cầu làm chủ công nghệ chiến lược. Nghị quyết số 57-NQ/TW xác định phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số là những động lực chủ yếu cho quá trình phát triển đất nước; qua đó từng bước nâng cao mức độ tự chủ về công nghệ, đồng thời tăng cường năng lực cạnh tranh của quốc gia. Đây chính là bước phát triển mới của tư tưởng “tiếp thu văn minh để tự cường” trong điều kiện hiện đại.
Thứ tư, mục tiêu “hậu dân sinh” được cụ thể hóa thông qua định hướng phát triển kinh tế số và xây dựng hệ sinh thái đổi mới sáng tạo, trong đó người dân và doanh nghiệp được xác định là trung tâm của quá trình phát triển. Đồng thời, đây vừa là chủ thể tham gia, vừa là động lực thúc đẩy các hoạt động đổi mới, qua đó góp phần nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân.
Có thể khẳng định, mục tiêu đổi mới sáng tạo trong Nghị quyết số 57-NQ/TW chính là sự kế thừa và nâng tầm tư tưởng "khai dân trí" của cụ Phan Châu Trinh trong kỷ nguyên mới. Nếu như hơn 100 năm trước, nhận thấy tri thức kém cỏi là gốc rễ của việc mất nước, cụ Phan chủ trương truyền bá khoa học thực dụng, bài trừ hủ tục và xóa bỏ lối học từ chương sáo rỗng để dân tộc tự lực tự cường. Ngày nay, đứng trước thời đại mới, Đảng và Nhà nước ta cũng xác định khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo là yếu tố tiên quyết để ngăn chặn sự tụt hậu và bứt phá đi lên. Điểm giao thoa sâu sắc của hai tư tưởng này chính là việc đặt con người và trí tuệ làm trung tâm của mọi sự phát triển.
Nếu xưa kia, "khai dân trí" bắt đầu bằng học chữ Quốc ngữ và tri thức thực nghiệp, thì hiện nay là chiến lược phát triển nhân tài, làm chủ các công nghệ chiến lược như trí tuệ nhân tạo, điện toán đám mây và vi mạch bán dẫn. Từ khát vọng tự cường đến tầm nhìn vươn lên trở thành cường quốc kinh tế số, cả hai đều khẳng định một chân lý: Mở mang tri thức và phát huy tối đa trí tuệ con người luôn là nền tảng cốt lõi đưa đất nước tiến tới văn minh, giàu mạnh và hùng cường.
Tài liệu tham khảo
1. Nghị quyết 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Ban chấp hành Trung ương Đảng về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia
