Trong giai đoạn 1954-1975 ở miền Nam Việt Nam, nhất là từ năm 1965 đến 1975, dưới chính thể Việt Nam Cộng hòa, có một số tờ báo tiến bộ, đấu tranh chống chính quyền Sài Gòn tham nhũng, độc tài, phản đối chiến tranh, đòi hòa bình, dân sinh, dân chủ và độc lập dân tộc, …. Báo chí tiến bộ đã góp phần vào cuộc đấu tranh chính trị sôi động của nhân dân miền Nam trong giai đoạn này

Một số tờ báo tiến bộ, đối lập chính quyền Sài Gòn

Chính quyền Sài Gòn được trải qua nền đệ nhất cộng hòa thời Ngô Đình Diệm (1954-1963) và nền đệ nhị cộng hòa thời Nguyễn Văn Thiệu (1965-1975) được mô tả là chính thể tự do, dân chủ…trong bối cảnh đó, báo chí cũng có được sự phát triển khá phong phú, xuất hiện một số tờ báo đối lập với chính quyền Sài Gòn.

Trong những năm đầu sau Hiệp định Geneva, một số tờ báo đã thể hiện thái độ phê phán chính sách độc tài gia đình trị Họ Ngô. Dù gặp phải sự kiểm duyệt gắt gao của Bộ Thông tin chính quyền Sài Gòn, nhiều cây bút vẫn khéo léo dùng các bài nghị luận, truyện ngắn, hoặc thơ châm biếm để nói lên tiếng nói đối lập.

Một số tờ báo đối lập tiêu biểu trong giai đoạn 1954-1975 có thể kể đến Báo Tự Do, Báo Điện Tín, Báo Tin Sáng, Báo Sóng Thần, Báo Đại Dân Tộc….

Báo Điện Tín một trong những tờ báo đối lập nổi tiếng nhất tại Sài Gòn trước năm 1975. Tờ báo tập hợp nhiều cây bút tiến bộ, có khuynh hướng hòa hợp dân tộc, đòi chấm dứt chiến tranh và lập lại hòa bình. Điện Tín thường xuyên đăng tải các bài viết chỉ trích chính sách quân sự của chính quyền Nguyễn Văn Thiệu, phản ánh đời sống cơ cực của người dân và tố cáo các vụ tham nhũng. Vì lý do này, tờ báo liên tục bị tịch thu, đình bản hoặc bị phạt tiền.

Báo Tin Sáng được sáng lập bởi ông Ngô Công Đức, một dân biểu đối lập trong Hạ nghị viện Sài Gòn. Tin Sáng là tiếng nói mạnh mẽ của lực lượng hòa bình, đòi chủ quyền quốc gia và phản đối sự can thiệp của nước ngoài. Báo thẳng thắn phê phán những sai lầm của chính quyền Nguyễn Văn Thiệu, ủng hộ phong trào học sinh - sinh viên và các lực lượng Phật giáo đấu tranh đòi hòa bình. Do những bài viết có tính công kích mạnh mẽ, tòa soạn Tin Sáng nhiều lần bị lực lượng mật vụ đập phá, bản thân ông Ngô Công Đức bị bắt giữ và sau đó phải lánh nạn sang nước ngoài. Tờ báo bị chính quyền đóng cửa vào năm 1972, sau đó được xuất bản lại một thời gian ngắn sau khi Hiệp định Paris được ký kết.

Nhật báo Sóng Thần (Ảnh tư liệu)

Báo Đại Dân Tộc do dân biểu đối lập Kiều Mộng Thu làm đại diện, Đại Dân Tộc cũng là một diễn đàn quan trọng của các lực lượng chính trị thuộc “Thành phần thứ ba” (lực lượng không đứng về phía chính quyền Sài Gòn cũng như Mặt trận Dân tộc Giải phóng, nhưng đòi hỏi hòa bình và hòa hợp dân tộc). Tờ báo chuyên đăng tải các bài viết đấu tranh cho quyền lợi của dân nghèo đô thị, đòi thả tù chính trị và phản đối bầu cử độc diễn của Nguyễn Văn Thiệu.

Một số tờ báo Phật giáo (Báo Chánh Đạo, Đuốc Tuệ,...) cũng là tiếng nói đối lập với chính quyền Sài Gòn. Trong cuộc vận động Phật giáo năm 1963 chống chính sách kỳ thị tôn giáo của Ngô Đình Diệm và sau đó là các phong trào đấu tranh đòi hòa bình những năm 1966 -1970, các cơ quan ngôn luận của Phật giáo miền Nam và các nhóm Phật tử cấp tiến đóng vai trò như những tờ báo đối lập tâm lý, kêu gọi thanh niên không đi lính, đòi chấm dứt bạo lực và yêu cầu các bên ngồi vào bàn đàm phán thương lượng hòa bình.

Bên cạnh các tờ báo công khai phải trải qua kiểm duyệt, phong trào học sinh - sinh viên Sài Gòn (như Tổng hội Sinh viên Sài Gòn) đã xuất bản nhiều tờ nội san, bán công khai hoặc bí mật như Nhân Bản, Chân Đất, Tự Quyết. Các ấn phẩm này cổ vũ tinh thần yêu nước, chống quân dịch, đòi tự do hội họp và phản đối sự hiện diện của quân đội Hoa Kỳ tại miền Nam Việt Nam.

Để đối phó với những tiếng nói đối lập, chính quyền Sài Gòn (đặc biệt dưới thời tổng thống Nguyễn Văn Thiệu với Sắc luật 007/TT/SL ban hành năm 1972) đã áp dụng nhiều biện pháp cứng rắn để đàn áp báo chí đối lập.

Trong nhiều trường hợp, chính quyền Sài Gòn Cho cảnh sát tịch thu ngay tại nhà in các số báo có nội dung “gây hại cho an ninh quốc gia”.

Chính quyền cũng buộc các tòa soạn phải nộp một khoản tiền ký quỹ rất lớn để phòng trường hợp bị phạt vạ, khiến nhiều tờ báo nhỏ, nghèo phải tự đóng cửa[1].

Một số tờ báo tiến bộ bị chính quyền Sài Gòn kiện ra tòa, chẳng hạn như báo Sóng Thần bị kiện vì tội “phỉ báng Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu” khi đăng những bản cáo trạng cáo buộc Nguyễn Văn Thiệu và nhiều sĩ quan cao cấp quân đội Sài Gòn tham nhũng.

Tuy nhiên, một số tờ báo đối lập vẫn hoạt động khá mạnh mẽ, nhất là từ sau khi Hiệp định Paris được ký kết.

Báo Tin Sáng và những chủ đề tiêu biểu chống chính quyền Nguyễn Văn Thiệu

Trong giai đoạn từ năm 1968 đến 1972 (trước khi bị đóng cửa) và giai đoạn ngắn sau Hiệp định Paris 1973, báo Tin Sáng dưới sự điều hành của chủ nhiệm Ngô Công Đức đã trở thành mũi nhọn báo chí đối lập hàng đầu tại Sài Gòn. Tờ báo liên tục tấn công trực diện vào chính quyền của Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu thông qua các bài phóng sự điều tra, các chuyên mục bình luận sắc sảo và tranh biếm họa.

Một trong những vũ khí sắc bén nhất của báo Tin Sáng là khui ra các bê bối tài chính và tệ nạn tham nhũng trong bộ máy chính quyền lẫn quân đội của Nguyễn Văn Thiệu. Báo liên tục đăng tải các bài điều tra về việc ăn chặn tiền trợ cấp lính tử trận, tham nhũng quân nhu, và sự lũng đoạn của các phe cánh thân cận với Dinh Độc Lập.

Những bài viết này trực tiếp đánh vào uy tín của Nguyễn Văn Thiệu, phơi bày sự thối nát của bộ máy cai trị và kích động sự giận dữ của gia đình binh sĩ quân đội Sài Gòn.

Khi Nguyễn Văn Thiệu ban hành Sắc luật số 007/TT/SL vào năm 1972, buộc các tờ báo phải ký quỹ một số tiền khổng lồ lên tới hàng chục triệu đồng tiền Sài Gòn để quản lý và răn đe, báo Tin Sáng đã đi đầu trong việc phản kháng. Tờ báo đăng tải hàng loạt bài bình luận đanh thép, coi đây là “bản án tử hình dành cho tự do ngôn luận”. Các bài viết khẳng định Sắc luật 007 là công cụ độc tài nhằm dập tắt mọi tiếng nói đối lập trước thềm các kỳ bầu cử. Tin Sáng kêu gọi giới ký giả đứng lên đấu tranh, góp phần trực tiếp châm ngòi cho phong trào “Ngày ký giả đi ăn mày” 10/10/1974 đầy rúng động sau này để phản đối luật lệ hà khắc của chính quyền Thiệu.

Khi chính quyền Nguyễn Văn Thiệu thực hiện chính sách đôn quân, bắt lính gắt gao để phục vụ chiến tranh, Tin Sáng đã dùng ngòi bút để bảo vệ thanh niên và các tầng lớp dân nghèo trước chính sách này. Các bài viết trên báo phân tích sâu sắc về nỗi đau chiến tranh, sự kiệt quệ của nền kinh tế miền Nam do phục vụ cho guồng máy quân sự của Mỹ và Nguyễn Văn Thiệu. Báo công khai ủng hộ lập trường của lực lượng trung lập (thành phần thứ ba), kêu gọi đối thoại hòa hợp dân tộc thay vì giải pháp quân sự.Tờ báo khéo léo lồng ghép tiếng nói của các học sinh, sinh viên, các tổ chức Phật giáo đấu tranh, biến các trang viết thành diễn đàn công khai chống lại lệnh tổng động viên của chính quyền.

Không chỉ có những bài nghị luận khô khan, Tin Sáng sở hữu một thứ vũ khí cực kỳ lợi hại là các bức tranh biếm họa của họa sĩ Ớt (Huỳnh Bá Thành) - người sau này được xác định là một chiến sĩ tình báo hoạt động công khai.

Hằng ngày, trang nhất hoặc trang trong của Tin Sáng đều xuất hiện những bức tranh vẽ Nguyễn Văn Thiệu và nội các Sài Gòn dưới hình ảnh những con rối bị giật dây bởi ngoại bang, hoặc những kẻ tham lam, bất tài.

Năm 1971, sau khi vẽ một bức tranh biếm họa “sâu cay” chế giễu Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu về trò hề bầu cử độc diễn, ông bị chính quyền Sài Gòn truy bắt. Để bảo toàn tính mạng và tiếp tục hoạt động, ông đã bí mật lánh nạn vào Dinh Hoa Lan dưới sự che chở của Đại tướng Dương Văn Minh (người đứng đầu nhóm thành phần thứ ba). Tại đây, ông vừa làm phụ tá báo chí cho ông Dương Văn Minh, vừa thu thập nhiều tin tức tình báo giá trị cho cách mạng.

Các bài viết ngắn đi kèm (dưới dạng các câu chuyện ngụ ngôn, đối thoại hài hước) châm biếm sâu cay thói đạo đức giả và sự độc tài của Nguyễn Văn Thiệu. Đây là phần được độc giả Sài Gòn đón đọc nhiều nhất, biến những thông điệp chính trị phức tạp thành những tiếng cười giải trí nhưng đầy tính chiến đấu, làm lung lay tính chính danh của chính quyền Nguyễn Văn Thiệu ngay tại đô thị.

Báo Tin Sáng đã biến ngòi bút thành vũ khí chính trị sắc bén, dùng sự thật để làm lung lay tận gốc rễ tính chính danh của chế độ độc tài Nguyễn Văn Thiệu.

Sự phản kháng quyết liệt của Tin Sáng đã khiến chính quyền Nguyễn Văn Thiệu lo sợ, dẫn đến việc tòa soạn báo liên tục bị tịch thu bản in, bị cảnh sát đập phá và cuối cùng bị đóng cửa vào năm 1972.

Dân biểu Kiều Mộng Thu đại diện báo Đại Dân Tộc và một số dân biểu Sài Gòn biểu tình ngồi với ảnh Tổng Thống Thiệu bị gạch chéo với hàng chữ: "Còn Thiệu là còn chiến tranh, nghèo đói. Ô. Thiệu phải từ chức." (Ảnh tư liệu)
Báo Đại Dân Tộc phơi bày bộ mặt tham nhũng thối nát của chính quyền Sài Gòn
Bên cạnh tờ Tin Sáng, báo Đại Dân Tộc, do dân biểu đối lập Kiều Mộng Thu làm đại diện, người được mệnh danh là “người phụ nữ thép”, cũng là một trong những tiếng nói đối lập gai góc và mạnh mẽ nhất tại Sài Gòn trước năm 1975. Tờ báo này tập trung khai thác đời sống của dân nghèo đô thị, phơi bày các vụ bê bối của gia đình Nguyễn Văn Thiệu và chống lại các luật lệ độc tài bóp nghẹt tự do.
Báo Đại Dân Tộc đã đăng loạt bài điều tra về đời sống dân nghèo và các hoạt động của“Mặt trận nhân dân cứu đói”. Chính quyền Nguyễn Văn Thiệu luôn cố gắng xây dựng hình ảnh một miền Nam “phồn vinh” để tranh thủ viện trợ Mỹ. Báo Đại Dân Tộc đã đập tan vỏ bọc này bằng thực tế đời sống xã hội.
Tờ báo liên tục đăng tải các bài phóng sự điều tra về cảnh nghèo đói cùng cực ở các khu ổ chuột Sài Gòn, nạn lạm phát phi mã và tình trạng khan hiếm gạo. Đặc biệt, báo cổ vũ mạnh mẽ cho “phong trào cứu đói và đi phát gạo” của các tổ chức xã hội. Việc chứng minh ngay giữa thủ đô Sài Gòn mà người dân phải đi phát gạo cứu đói là cái tát trực diện vào chính sách kinh tế yếu kém và tham nhũng của chính quyền Nguyễn Văn Thiệu. Cảnh sát Sài Gòn đã ra sức tịch thu các số báo này nhưng tòa soạn vẫn tìm cách phân phối đến tay độc giả.
Đại Dân Tộc cũng là một trong những tờ báo dũng cảm nhất khi trực tiếp đăng tải các tài liệu, cáo trạng phơi bày hành vi tham nhũng của những người thân cận nhất với Tổng thống. Báo đã trích dẫn và phổ biến rộng rãi các bản cáo trạng từ “Phong trào nhân dân chống tham nhũng để cứu nước và kiến tạo hòa bình” do Linh mục Trần Hữu Thanh và 300 linh mục khác khởi xướng. Các bài viết chỉ đích danh những tài sản bất minh, các biệt thự sang trọng và những khoản tiền công quỹ khổng lồ bị rò rỉ vào túi riêng của phe cánh Nguyễn Văn Thiệu, tạo nên làn sóng phẫn nộ cực lớn trong dư luận miền Nam lúc đó.
Sau khi Hiệp định Paris được ký kết năm 1973, Nguyễn Văn Thiệu tìm mọi cách trì hoãn việc thi hành các điều khoản hòa bình, đồng thời tiếp tục giam giữ hàng chục nghìn tù nhân chính trị. Báo Đại Dân Tộc đã liên tiếp đăng các bài xã luận yêu cầu chính quyền Sài Gòn phải nghiêm túc thi hành Hiệp định Paris, đòi tự do dân chủ, tự do hội họp và đặc biệt là thả ngay các tù chính trị đang bị giam cầm tại Côn Đảo và các nhà lao miền Nam. Tờ báo trở thành diễn đàn công khai cho các nhân sĩ, trí thức và luật sư thuộc lực lượng trung lập lên tiếng bác bỏ chính sách tiếp tục chiến tranh của Nguyễn Văn Thiệu.
Cũng như các tờ báo đối lập khác, Đại Dân Tộc chịu ảnh hưởng nặng nề bởi Sắc luật 007/TT/SL, đạo luật siết chặt tài chính và kiểm duyệt báo chí, năm 1972 của Nguyễn Văn Thiệu. Dưới sự dẫn dắt của bà Kiều Mộng Thu, tờ báo đã đăng nhiều bài viết phản đối sắc luật này, gọi đây là biện pháp “bóp nghẹt quyền làm người” và đòi trả lại quyền tự do ngôn luận cho người dân. Các cây bút của báo đã dùng ngòi bút để hiệu triệu, bảo trợ truyền thông cho cuộc xuống đường lịch sử “Ngày ký giả đi ăn mày” vào tháng 10/1974, biến sự kiện này thành một đòn giáng mạnh vào uy tín quốc tế của chính quyền Sài Gòn.
Bằng việc bám sát vào nỗi đau dân sinh và phơi bày sự tham nhũng ở thượng tầng, báo Đại Dân Tộc đã tước đi chiếc mặt nạ “dân chủ, phồn vinh” của chính quyền Nguyễn Văn Thiệu, dồn chế độ này vào thế cô lập ngay trong lòng đô thị.
Có thể nói, trong giai đoạn 1954-1975, báo chí tiến bộ ở miền Nam đã góp phần vào cuộc đấu tranh chính trị chống chế độ độc tài gia đình trị của Ngô Đình Diệm cũng như chế độ độc tài quân sự Nguyễn Văn Thiệu, góp phần phơi bày thực tế kinh tế, xã hội ở miền Nam Việt Nam và ủng hộ cuộc đấu tranh đòi hòa bình, độc lập, thống nhất của nhân dân miền Nam Việt Nam.

[1] Theo Luật báo chí của chính quyền Sài Gòn lúc đó, các tờ nhật báo phải ký quỹ lên đến 20 triệu đồng tiền Sài Gòn, tương đương 35.000 USD thời điểm đó và tương đương sức mua của 270.000 USD hiện nay (khoảng 8 tỷ đồng Việt Nam).