(VNTV). Từ một nước từng nhận viện trợ, Việt Nam vươn lên thành “sứ giả nhân văn”, biến mỗi nghĩa cử nhân đạo thành “vốn quý” lòng tin và “lá chắn mềm” bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa. Hình ảnh “Bộ đội Cụ Hồ” cứu nạn động đất ở Thổ Nhĩ Kỳ, Myanmar, Venezuela hay những “chiến sĩ mũ nồi xanh” gìn giữ hòa bình Liên Hợp Quốc đều góp phần thể hiện một Việt Nam có trách nhiệm, chuyên nghiệp, giàu nhân ái. Bằng nền đối ngoại ba trụ cột, Việt Nam nâng cao vị thế, vững bước vào kỷ nguyên vươn mình.

Những người lính Việt Nam trên tuyến đầu thảm họa quốc tế

Những năm gần đây đã đánh dấu bước trưởng thành vượt bậc của năng lực cứu hộ, cứu nạn Việt Nam. Tháng 2/2023, lần đầu tiên các lực lượng vũ trang Việt Nam, gồm cả Quân đội và Công an – lên đường ra nước ngoài làm nhiệm vụ tìm kiếm cứu nạn sau thảm họa động đất tại Thổ Nhĩ Kỳ. Tháng 3/2025, những người lính lại có mặt kịp thời tại Myanmar. Và đến tháng 6/2026, sau hai trận động đất khiến ít nhất 164 người thiệt mạng tại Venezuela, Bộ Quốc phòng đã cử một đoàn 82 quân nhân – trong đó có đơn vị Bộ đội Biên phòng cùng tám chú chó nghiệp vụ – vượt nửa vòng trái đất để tìm kiếm cứu nạn, cấp cứu y tế và cứu trợ nhân đạo tại quốc gia Nam Mỹ. Đây là lần thứ ba Quân đội nhân dân Việt Nam triển khai lực lượng ra nước ngoài ứng phó thảm họa [1].

Điều làm bạn bè quốc tế cảm phục không chỉ là sự hiện diện, mà là năng lực và tinh thần của những người lính Việt Nam. Các đoàn công tác đều tác nghiệp theo đúng quy trình tìm kiếm cứu nạn, phối hợp nhịp nhàng với lực lượng cứu hộ các nước và chính quyền sở tại, tuân thủ nghiêm luật pháp nước bạn, hết mình vì nhiệm vụ. “Cứu người ở Venezuela cũng như cứu người ở chính quê hương mình” [1] - câu nói giản dị của người chỉ huy đoàn công tác cứu hộ Việt Nam tại Venezuela đã nói lên tất cả. Chính sự chuyên nghiệp, kỷ luật và tận tụy đến quên mình trong những hoàn cảnh khắc nghiệt đã để lại ấn tượng sâu đậm, góp phần khẳng định thực lực và uy tín đang lên của đất nước.

Mỗi chuyến đi như vậy còn mang lại “lợi ích kép”. Đó vừa là một hoạt động đối ngoại giàu ý nghĩa nhân văn, vừa là một “bài huấn luyện thực chiến” quý giá, giúp lực lượng vũ trang Việt Nam tiếp cận và làm chủ các chuẩn mực, quy trình hiện đại của thế giới, ngày càng trở nên chuyên nghiệp và trưởng thành hơn.

“Những chiến sĩ mũ nồi xanh” và tinh thần sẻ chia không biên giới

Trước cả những phái bộ cứu hộ, hình ảnh người chiến sĩ “mũ nồi xanh” Việt Nam đã hiện diện ở những vùng đất xa xôi nhất. Từ năm 2014, Việt Nam cử lực lượng tham gia hoạt động gìn giữ hòa bình Liên Hợp Quốc, với những đội hình tiêu biểu như bệnh viện dã chiến cấp 2 tại Nam Sudan và đội công binh tại khu vực Abyei. Điều đặc biệt được cộng đồng quốc tế ghi nhận là tỷ lệ nữ quân nhân Việt Nam tham gia cao hơn mức trung bình của Liên Hợp Quốc; và toàn bộ quân nhân của một bệnh viện dã chiến đã vinh dự được trao Huy chương Gìn giữ hòa bình [1]. Đó thực sự là “tấm danh thiếp” đạo đức của một quốc gia yêu hòa bình và giàu lòng nhân ái.

Tinh thần sẻ chia ấy còn lan tỏa qua những nghĩa cử nhân đạo đa phương. Việt Nam ngày càng chủ động đóng góp, chung tay hỗ trợ nhân dân các vùng chịu ảnh hưởng của thiên tai và xung đột, kể cả những cuộc khủng hoảng nhân đạo nghiêm trọng như tại Dải Gaza thông qua các cơ chế của Liên Hợp Quốc. Truyền thống nhường cơm sẻ áo, giúp bạn trong lúc khó khăn, bão lũ, thiên tai được thể hiện sinh động qua các lần quyên góp, trợ giúp cho Lào, Campuchia, Cu Ba… Những cử chỉ đó cũng góp phần gìn giữ, vun đắp cho tình bạn, tình láng giềng thủy chung giữa Việt Nam với các nước. Dù quy mô sự trợ giúp còn khiêm tốn so với các cường quốc, mỗi nghĩa cử đều mang ý nghĩa sâu sắc: nó thể hiện một lập trường nhân đạo nhất quán của dân tộc từng đi qua chiến tranh và thấu hiểu hơn ai hết giá trị của hòa bình.

Lòng tin: “vốn quý” và “lá chắn” của quốc gia

Đằng sau mỗi hành động nhân đạo là một giá trị chiến lược sâu xa: sự bồi đắp lòng tin với các đối tác, bạn bè quốc tế. Ông cha ta có câu “một miếng khi đói bằng một gói khi no”, khẳng định rằng sự sẻ chia, trợ giúp lúc khó khăn, hoạn nạn sẽ tạo nên tình cảm và lòng tin sâu sắc, bền vững mà hình thức ngoại giao thông thường có thể không làm được. Có thể gọi đó là “vốn quý” của quốc gia trên trường quốc tế: gây dựng sự thiện cảm, tin cậy của nhân dân và chính phủ các nước dành cho Việt Nam.

Nguồn “vốn” ấy mang lại giá trị kép. Một mặt, nó giúp hóa giải những nghi kỵ, định kiến và thông tin sai lệch, làm cho hình ảnh Việt Nam ngày càng đẹp và được tôn trọng hơn trong mắt bạn bè. Mặt khác, nó góp phần tạo dựng một mạng lưới đối tác tin cậy, đan cài lợi ích lâu dài, làm chỗ dựa để Việt Nam tranh thủ sự đồng tình, ủng hộ của quốc tế đối với những lợi ích chính đáng của mình, kể cả trong các vấn đề nhạy cảm về chủ quyền.

Sâu xa hơn, thiện cảm quốc tế còn là một “lá chắn” mềm bảo vệ đất nước. Một quốc gia được nhân dân thế giới yêu mến và tôn trọng sẽ khó bị cô lập, bị áp đặt hay công kích, xuyên tạc; những nguy cơ bị động, bất ngờ về chiến lược nhờ đó được giảm thiểu. Đây chính là sự cụ thể hóa sinh động phương châm bảo vệ Tổ quốc “từ sớm, từ xa, giữ nước từ khi nước chưa nguy” mà Đảng ta đã xác định [2]. Bằng chủ nghĩa nhân văn, hòa bình, phi đối đầu, Việt Nam vừa thể hiện được vai trò và trách nhiệm quốc tế tích cực, vừa góp phần giữ vững độc lập, tự chủ, xây dựng một “tuyến phòng thủ” đất nước từ xa bằng lòng tin và uy tín quốc gia, không bị cuốn vào thế “chọn bên” trong cạnh tranh giữa các nước lớn. .

Trách nhiệm quốc tế ngày càng chủ động của Việt Nam

Sức mạnh của ngoại giao nhân văn Việt Nam bắt nguồn từ truyền thống dân tộc, từ sự phối hợp nhuần nhuyễn của một nền đối ngoại toàn diện, hiện đại dưới sự lãnh đạo của Đảng, với ba trụ cột gắn bó: đối ngoại Đảng, ngoại giao nhà nước và đối ngoại nhân dân [3]. Trong đó, đối ngoại Đảng xây dựng, củng cố nền tảng chính trị, lòng tin chiến lược và mở đường cho ngoại giao Nhà nước; ngoại giao Nhà nước mở đường, kết nối, thực thi; còn đối ngoại nhân dân xây dựng tình hữu nghị giữa nhân dân Việt Nam với nhân dân thế giới, lan tỏa những giá trị tốt đẹp của dân tộc, tạo nền tảng xã hội vững chắc cho quan hệ đối ngoại. Chính sự cộng hưởng “Đảng - Nhà nước - Nhân dân” ấy làm cho mỗi nghĩa cử của Việt Nam trở nên chân thành, bền vững và có chiều sâu chiến lược, bởi đó là sự kết nối từ lý trí đến hành động, từ trái tim đến trái tim.

Câu chuyện những người lính Việt Nam nơi tuyến đầu thảm họa, hay hình ảnh “những chiến sĩ mũ nồi xanh” gìn giữ hòa bình và những nghĩa cử với bạn bè trong những lúc khó khăn phản ánh sự trưởng thành trong nhận thức và hành động của một dân tộc về trách nhiệm và nghĩa vụ quốc tế. Từ một quốc gia từng nhận nhiều sự giúp đỡ, Việt Nam đã vươn lên thành một thành viên chủ động, tích cực đóng góp cho hòa bình, hợp tác và phát triển. Đó cũng là sự tiếp nối tư tưởng, khát vọng hòa hiếu của Chủ tịch Hồ Chí Minh: Việt Nam sẵn sàng “làm bạn với tất cả các nước”, chung tay vì một thế giới tốt đẹp hơn.

Hướng tới năm 2045, khát vọng của dân tộc không chỉ là một Việt Nam hùng cường, thịnh vượng về kinh tế, mà còn là một đất nước giàu lòng nhân ái, nhân văn và trách nhiệm – nơi mỗi hành động sẻ chia với bạn bè quốc tế đều góp phần làm rạng rỡ hình ảnh Việt Nam và vun đắp cho hòa bình, tiến bộ của nhân loại. Đó chính là con đường để đất nước ta “sánh vai với các cường quốc năm châu” bằng cả sức mạnh vật chất và tinh thần.

...................................................

Chú thích:

[1] Thông tấn xã Việt Nam (VietnamPlus), thông tin về đoàn công tác cứu hộ, cứu nạn quốc tế của Quân đội nhân dân Việt Nam, tháng 6/2026.

[2] Nghị quyết số 44-NQ/TW ngày 24/11/2023 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa XIII) về Chiến lược bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới.

[3] Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2026.