Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn coi công tác dân vận có ý nghĩa quan trọng đối với sự nghiệp cách mạng và những chỉ dẫn của Người trong bài báo Dân vận, viết tháng 10/1949 chứa đựng những giá trị sâu sắc về phẩm chất, năng lực, phương pháp và trách nhiệm của cán bộ dân vận. Vận dụng những chỉ dẫn của Người hiện nay đòi hỏi phải gắn xây dựng đội ngũ cán bộ dân vận với yêu cầu gần dân, hiểu dân, đối thoại với dân, giải quyết những vấn đề thiết thực của nhân dân

Những chỉ dẫn của Chủ tịch Hồ Chí Minh đối với cán bộ dân vận

Trong tư tưởng Hồ Chí Minh, nhân dân vừa là chủ thể của sự nghiệp cách mạng, vừa là nguồn sức mạnh quyết định đối với sự thành công của các chủ trương, đường lối lãnh đạo của Đảng. Công tác dân vận là công tác tuyên truyền, vận động, tập hợp và tổ chức các phong trào trong nhân dân thực hiện những nhiệm vụ đã đề ra. Do đó, đặt ra yêu cầu xây dựng đội ngũ cán bộ dân vận có phẩm chất, năng lực và phương pháp làm việc phù hợp.

Bài báo “Dân vận”, đăng trên Báo “Sự Thật” ngày 15/10/1949, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã xác định rõ nhiệm vụ, lực lượng và phương pháp tiến hành công tác dân vận.

Người nhấn mạnh: “Những người phụ trách dân vận cần phải óc nghĩ, mắt trông, tai nghe, chân đi, miệng nói, tay làm”[1].

Đây không chỉ là lời căn dặn về tác phong công tác mà còn là sự khái quát những yêu cầu cơ bản đối với người cán bộ dân vận phải có tư duy, hiểu thực tiễn, biết lắng nghe, sâu sát cơ sở, có khả năng thuyết phục và hành động thiết thực trong thực tiễn công tác dân vận.

Thứ nhất, cán bộ dân vận phải “óc nghĩ”, tức là có tư duy, năng lực nghiên cứu và khả năng tham mưu về công tác dân vận. Yêu cầu “óc nghĩ” đặt hoạt động dân vận trên cơ sở nhận thức, phân tích và lựa chọn cách làm phù hợp, thay vì hành động theo thói quen hoặc áp dụng máy móc những hình thức có sẵn. Người cán bộ phải nắm vững chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; hiểu đặc điểm địa bàn, nhóm xã hội và vấn đề cần vận động; biết phân tích nguyên nhân của những băn khoăn, kiến nghị trong nhân dân. Từ đó, tham mưu giải pháp sát thực tiễn, có tính khả thi và phù hợp với lợi ích chính đáng của người dân. Các phân tích về phương pháp dân vận Hồ Chí Minh cũng nhấn mạnh yêu cầu kết hợp hiểu biết lý luận với năng lực nắm bắt tình hình, tuyên truyền, thuyết phục và tổ chức phong trào quần chúng.

Thứ hai, cán bộ dân vận phải “mắt trông, tai nghe, chân đi”, sâu sát cơ sở, tôn trọng thực tiễn và lắng nghe Nhân dân. “Mắt trông, tai nghe, chân đi” thể hiện yêu cầu chống quan liêu, xa dân, làm việc chủ yếu qua báo cáo hoặc chỉ đạo từ xa. Muốn hiểu được nhân dân, cán bộ dân vận phải trực tiếp tìm hiểu đời sống, điều kiện sinh hoạt, tâm tư, nguyện vọng và những khó khăn mà người dân đang gặp phải. Cán bộ dân vận lắng nghe nhân dân để ghi nhận ý kiến và kiểm chứng thông tin, nhận diện vấn đề, từ đó điều chỉnh phương pháp tuyên truyền, vận động nhân dân và tham mưu giải quyết những vấn đề bất cập phát sinh trong đời sống nhân dân.

Thứ ba, cán bộ dân vận phải “miệng nói”, là yêu cầu về khả năng tuyên truyền, giải thích và thuyết phục của cán bộ dân vận với nhân dân. Chủ tịch Hồ Chí Minh rất quan tâm đến khả năng tuyên truyền của cán bộ dân vận, Người nhấn mạnh, khi thực hiện tuyên truyền, vận động thì cán bộ dân vận phải nói đúng, rõ ràng, dễ hiểu, có căn cứ, phù hợp với đối tượng và gắn với những vấn đề người dân quan tâm. Vì vậy, cán bộ dân vận “phải tìm mọi cách giải thích cho mỗi một người dân hiểu rõ ràng: Việc đó là lợi ích cho họ và nhiệm vụ của họ, họ phải hăng hái làm cho kỳ được”[2]. Chỉ dẫn này cho thấy vận động nhân dân là sự kết hợp tuyên truyền với đối thoại, giải thích với tiếp thu, định hướng với phát huy tính chủ động của người dân.

Thứ tư, Người yêu cầu cán bộ dân vận “tay làm”, gương mẫu, nói đi đôi với làm, nhấn mạnh việc biến nhận thức thành hành động trong thực tiễn; cán bộ dân vận không được nói suông, phải thực sự tham gia, hướng dẫn, hỗ trợ và cùng Nhân dân tháo gỡ khó khăn, vướng mắc trong thực tiễn, lấy kết quả là thước đo hiệu quả công tác. Bên cạnh đó, Người cũng phê phán tình trạng coi nhẹ công tác dân vận, đùn đẩy trách nhiệm, thậm chí giao cho một số người rồi bỏ mặc. Trong thực tiễn hiện nay, nhất là ở cấp xã khi thực hiện mô hình chính quyền địa phương hai cấp, đòi hỏi cán bộ dân vận phải hành động thiết thực, nêu gương, gần dân, có trách nhiệm với dân, phải “tay làm” để trực tiếp nắm bắt, phối hợp giải quyết kiến nghị của nhân dân, đồng thời phát huy vai trò làm chủ và sự tham gia giám sát của nhân dân.

Thứ năm, Người yêu cầu cán bộ dân vận phải luôn tôn trọng dân chủ, lắng nghe và phát huy trí tuệ của nhân dân nên “bất cứ việc gì đều phải bàn bạc với dân, hỏi ý kiến và kinh nghiệm của dân”[3]. Cán bộ dân vận luôn phải lắng nghe ý kiến của nhân dân, tiếp thu kinh nghiệm thực tiễn và coi trọng sự tham gia của người dân trong quá trình xác định nhiệm vụ và tổ chức thực hiện dân vận. Từ đó, cán bộ dân vận phải sâu sát thực tiễn, vận dụng linh hoạt và tổ chức thực hiện phù hợp với thực tiễn địa phương như lời Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ dẫn: “Cùng với dân đặt kế hoạch cho thiết thực với hoàn cảnh địa phương, rồi động viên và tổ chức toàn dân ra thi hành”[4].

Bác Hồ với bà con nông dân xã Hùng Sơn, Đại Từ, Thái Nguyên năm 1954 (Ảnh tư liệu)

Thứ sáu, cán bộ dân vận phải có tinh thần, trách nhiệm, kiên trì theo dõi hỗ trợ Nhân dân trong quá trình thực hiện vận động nhân dân. Vì vậy, Người nhấn mạnh yêu cầu đối cán bộ dân vận “trong lúc thi hành phải theo dõi, giúp đỡ, đôn đốc, khuyến khích dân”[5]. Cán bộ phải đồng hành với Nhân dân trong quá trình thực hiện, kịp thời phát hiện khó khăn, hướng dẫn tháo gỡ vướng mắc, động viên những người còn băn khoăn và đôn đốc các công việc chưa hoàn thành. Yêu cầu này thể hiện tinh thần sâu sát, tận tuỵ, chủ động và trách nhiệm đến cùng với nhiệm vụ.

Bên cạnh đó, Người cũng yêu cầu đối với cán bộ dân vận “khi thi hành phải cùng với dân kiểm thảo lại công việc, rút kinh nghiệm, phê bình, khen thưởng”[6] đặt ra trách nhiệm tổng kết và đánh giá công việc một cách thực chất. Cán bộ dân vận cùng Nhân dân xem xét kết quả đạt được, những việc chưa làm được, nguyên nhân và trách nhiệm của các bên; từ đó điều chỉnh phương pháp và nâng cao hiệu quả công việc. Việc phê bình phải khách quan, có tính xây dựng; khen thưởng phải kịp thời, công bằng, đúng người đúng việc, đặc biệt cần coi trọng ý kiến đánh giá của người dân. Đây là cách để khắc phục bệnh thành tích, đồng thời phát huy dân chủ và trách nhiệm trong thực hiện dân vận.

Những chỉ dẫn của Chủ tịch Hồ Chí Minh tạo thành một chỉnh thể thống nhất giữa tư duy và hành động. Do đó, giữa hiểu biết và thực tiễn, giữa tuyên truyền và nêu gương, giữa trách nhiệm cá nhân trách nhiệm của toàn hệ thống chính trị. Giá trị cốt lõi là lấy nhân dân làm trung tâm của hoạt động dân vận, lấy hiệu quả công việc và sự chuyển biến thực tế làm thước đo chất lượng của người cán bộ.

Yêu cầu đối với cán bộ dân vận ở nước ta trong giai đoạn hiện nay

Những chỉ dẫn của Hồ Chí Minh cần được vận dụng sáng tạo trong điều kiện phát triển mới của đất nước, việc sắp xếp tổ chức bộ máy, vận hành chính quyền địa phương hai cấp, đẩy mạnh cải cách hành chính và chuyển đổi số đang đặt ra yêu cầu đổi mới phương thức lãnh đạo, quản lý và phục vụ nhân dân trong xây dựng đội ngũ cán bộ dân vận đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ mới.

Một là, cán bộ dân vận cần nâng cao năng lực tham mưu đối với cấp uỷ, tổ chức đảng trong thực hiện công tác dân vận. Đây là yêu cầu quan trọng đối với cán bộ dân vận nhằm bảo đảm chủ trương, nghị quyết của Đảng về công tác dân vận được cụ thể hoá trong thực tiễn đời sống nhân dân. Do đó, cần nâng cao năng lực đề xuất chủ trương, giải pháp có tính khả thi; nâng cao khả năng nghiên cứu, phân tích, dự báo tình hình nhân dân, nắm chắc tâm tư, nguyện vọng, những vấn đề gây bức xúc trong nhân dân và năng lực tham mưu về công tác kiểm tra, giám sát, sơ kết, tổng kết và đánh giá hiệu quả về công tác dân vận.

Hai là, yêu cầu cán bộ dân vận phải thực sự gần dân, hiểu dân và có khả năng đối thoại với nhân dân. Bám sát phương châm: “Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng”[7], trong điều kiện kiện toàn, đổi mới tổ chức theo hướng tinh gọn, cán bộ cấp cơ sở gần dân, sát dân, trực tiếp giải quyết nhiều vấn đề gắn với đời sống của người dân. Điều đó đòi hỏi cán bộ dân vận phải nắm chắc tình hình địa bàn, phát hiện sớm những băn khoăn, mâu thuẫn và kiến nghị chính đáng; chủ động phối hợp với cơ quan có thẩm quyền để giải quyết. Đối thoại cần dựa trên tinh thần tôn trọng, thẳng thắn, cầu thị; thông tin cung cấp phải chính xác, thẩm quyền và trách nhiệm phải rõ ràng.

Ba là, yêu cầu cán bộ dân vận nâng cao năng lực tuyên truyền, thuyết phục, vận động nhân dân trong môi trường số. Trong điều kiện chuyển đổi số ngày càng mạnh mẽ, việc “đổi mới nội dung, phương thức tuyên truyền, vận động, sử dụng có hiệu quả các phương tiện thông tin đại chúng, mạng xã hội theo hướng thiết thực”[8] là trách nhiệm của các cấp uỷ, tổ chức đảng nhằm nâng cao năng lực của cán bộ, trong đó có cán bộ dân vận trong môi trường số để cung cấp thông tin chính xác, tiếp nhận phản ánh và phản hồi kịp thời; đồng thời phải kiểm chứng thông tin, bảo vệ dữ liệu cá nhân, tôn trọng quyền riêng tư và tránh đưa thông tin chưa được xác thực lên các kênh truyền thông.

Bác Hồ thăm nhân dân Hải Dương (Ảnh tư liệu)

Bốn là, xây dựng đội ngũ cán bộ dân vận phải gắn với đạo đức công vụ, trách nhiệm nêu gương và kết quả phục vụ nhân dân. Trong điều kiện mới, cán bộ dân vận phải thực hành cần, kiệm, liêm, chính, tận tuỵ phục vụ nhân dân, đồng thời kiên quyết khắc phục biểu hiện quan liêu, hình thức, mệnh lệnh hành chính và thiếu trách nhiệm, gây phiền hà cho nhân dân. Qua đó, mỗi cán bộ phải tự rèn luyện để thực sự thấm nhuần phong cách “trọng dân, gần dân, tin dân, hiểu dân, học dân, dựa vào dân và có trách nhiệm với dân”[9] và hiệu quả của công tác dân vận phải được đánh giá bằng kết quả giải quyết những vấn đề thiết thực, mức độ hài lòng và sự tin tưởng của nhân dân. Đây là cơ sở quan trọng để xây dựng đội ngũ cán bộ dân vận liêm chính, gần dân, trọng dân, có trách nhiệm với dân, đáp ứng yêu cầu công tác dân vận trong tình hình mới.

Vận dụng chỉ dẫn của Hồ Chí Minh trong xây dựng đội ngũ cán bộ dân vận hiện nay

Một là, cụ thể hóa tiêu chuẩn cán bộ dân vận theo yêu cầu “óc nghĩ, mắt trông, tai nghe, chân đi, miệng nói, tay làm”. Thực hiện giải pháp này, cần chuyển hoá những yêu cầu trên thành tiêu chuẩn cán bộ dân vận bao gồm bản lĩnh chính trị, đạo đức công vụ, kiến thức về chủ trương và pháp luật, năng lực nghiên cứu và tham mưu, kỹ năng lắng nghe, đối thoại, thuyết phục, khả năng tổ chức thực hiện công tác dân vận; lấy hiệu quả công việc, mức độ gắn bó với nhân dân, khả năng giải quyết vấn đề từ cơ sở và sự hài lòng chính đáng của người dân làm căn cứ đánh giá. Khi cán bộ dân vận quán triệt thực hiệm nghiêm, triệt để sẽ khắc phụ được những biểu hiện hành chính hóa, xa dân, nói nhiều làm ít, góp phần xây dựng đội ngũ cán bộ dân vận có năng lực, uy tín và đáp ứng yêu cầu công tác dân vận trong tình hình mới.

Hai là, đổi mới công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ dân vận theo hướng gắn lý luận với thực tiễn. Nội dung đào tạo cần kết hợp trang bị lý luận về công tác dân vận với phân tích các tình huống cụ thể như vấn đề tiếp công dân, đối thoại, xử lý kiến nghị, vận động khi thực hiện dự án có tác động đến đời sống người dân, giải quyết mâu thuẫn ở cộng đồng, xử lý điểm nóng và vận động đồng bào dân tộc thiểu số, đồng bào tôn giáo.

Ba là, xây dựng cơ chế để cán bộ dân vận thường xuyên tiếp xúc, lắng nghe và học hỏi nhân dân. Cấp ủy, chính quyền và cơ quan phụ trách dân vận cần duy trì các hình thức tiếp xúc phù hợp với từng địa bàn, nhóm dân cư và vấn đề cụ thể. Việc tiếp nhận phản ánh phải đi kèm quy trình phân loại, chuyển đúng cơ quan có thẩm quyền, xác định thời hạn xử lý và thông báo kết quả. Các kênh trực tuyến cần được kết nối với cơ chế tiếp nhận trực tiếp để bảo đảm người dân có thể phản ánh bằng phương thức phù hợp.

Bốn là, đổi mới đánh giá cán bộ dân vận dựa trên kết quả và sự chuyển biến thực tế. Cần quan tâm chất lượng tham mưu, mức độ sâu sát cơ sở, khả năng phối hợp, tỷ lệ kiến nghị được xử lý đúng thẩm quyền và thời hạn, chất lượng phản hồi, cũng như mức độ hài lòng của người dân được khảo sát bằng phương pháp phù hợp. Không nên chỉ lấy số lượng cuộc họp, buổi tuyên truyền hoặc mô hình được đăng ký làm thước đo duy nhất. Các chỉ số định lượng phải được xem xét cùng phản hồi định tính, tính chất từng địa bàn và điều kiện thực hiện; tránh chạy theo thành tích hoặc tạo áp lực khiến cán bộ chỉ tập trung vào số liệu.

Năm là, bảo đảm điều kiện và cơ chế phối hợp để cán bộ dân vận thực hiện nhiệm vụ. Người làm công tác dân vận cần được cung cấp thông tin, bồi dưỡng chuyên môn, hỗ trợ phương tiện và công cụ làm việc phù hợp. Cấp ủy, chính quyền, Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức liên quan cần có cơ chế phối hợp rõ ràng, phân định trách nhiệm, chia sẻ thông tin theo quy định và cùng theo dõi kết quả giải quyết những vấn đề của nhân dân. Việc giao nhiệm vụ phải đi đôi với hướng dẫn, kiểm tra và hỗ trợ; không khoán trắng công tác dân vận cho một bộ phận chuyên trách.

Sáu là, đề cao trách nhiệm nêu gương và xây dựng văn hóa phục vụ nhân dân. Cán bộ lãnh đạo, quản lý phải thực hiện nghiêm việc tiếp xúc, đối thoại, lắng nghe và xử lý kiến nghị theo quy định; làm gương về thái độ cầu thị, tính trung thực và tinh thần chịu trách nhiệm. Mỗi cán bộ cần coi việc giải quyết vấn đề của người dân là trách nhiệm công vụ chứ không phải hoạt động mang tính phong trào. Thường xuyên kiểm tra, chấn chỉnh biểu hiện quan liêu, né tránh, hứa nhưng không làm, thiếu tôn trọng hoặc gây phiền hà cho nhân dân.

Những chỉ dẫn của Chủ tịch Hồ Chí Minh về cán bộ dân vận gợi mở những nguyên tắc quan trong xây dựng đội ngũ dân vận hiện nay. Trong thời kỳ mới, vận dụng sáng tạo những chỉ dẫn đó cần được cụ thể hóa bằng tiêu chuẩn cán bộ rõ ràng, đào tạo sát thực tiễn, cơ chế tiếp nhận và giải quyết kiến nghị hiệu quả, ứng dụng công nghệ có trách nhiệm, đánh giá dựa trên kết quả và đề cao nêu gương. Qua đó, xây dựng đội ngũ cán bộ dân vận thực sự có năng lực, trách nhiệm, gần dân và vì dân, góp phần củng cố mối quan hệ gắn bó giữa Đảng, Nhà nước với nhân dân.

 

[1] Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia – Sự thật, Hà Nội, 2011, t.6, tr. 233-234

[2] Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.6, tr. 233.

[3] Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.6, tr. 233

[4] Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.6, tr. 233

[5] Hồ Chí Minh: Toàn tập Sđd, t.6, tr. 233

[6] Hồ Chí Minh: Toàn tập Sđd, t.6, tr. 233

[7] Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2026, t. I, tr.396.

[8] Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 20-26, t. II, tr.285.

[9] Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Nxb Chính trị Quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2021, t.II, tr.248.