Gần một thế kỷ sau ngày xuất bản, tác phẩm Đường Kách mệnh vẫn gợi mở những vấn đề căn cốt của sự nghiệp cách mạng. Trong Tác phẩm, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc đã tiếp nhận kinh nghiệm Cách mạng Tháng Mười Nga, rút ra nhiều bài học quý, đặc biệt: đại đoàn kết và vai trò lãnh đạo của Đảng, hai bài học vẫn còn nguyên giá trị đối với công tác xây dựng Đảng và sự nghiệp phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc hôm nay
Từ bài học Tháng Mười đến con đường cách mạng Việt Nam
Xuất bản năm 1927, Đường Kách mệnh kết tinh những bài giảng của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc tại các lớp huấn luyện cán bộ cách mạng (Quảng Châu, Trung Quốc).
Trong hoàn cảnh phong trào yêu nước Việt Nam đang tìm kiếm một con đường cứu nước mới, Người khảo cứu kinh nghiệm, thực tiễn cách mạng thế giới để giải đáp những vấn đề cấp bách của dân tộc: cách mạng phải tập hợp lực lượng như thế nào, do lực lượng nào lãnh đạo và tổ chức như thế nào để đi tới thắng lợi…
Vì vậy, những trang viết về Cách mạng Tháng Mười Nga vừa mang ý nghĩa tổng kết lịch sử, vừa trực tiếp chuẩn bị nhận thức và phương pháp hành động cho những người cách mạng Việt Nam.
Từ thực tiễn cách mạng Nga, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc rút ra kết luận hết sức quan trọng: “Cách mệnh Nga dạy cho chúng ta rằng muốn cách mệnh thành công thì phải dân chúng (công nông) làm gốc, phải có đảng vững bền, phải bền gan, phải hy sinh, phải thống nhất. Tóm lại là, phải theo chủ nghĩa Mã Khắc Tư và Lênin”[1].
Trong nhận định cô đọng ấy, hai vấn đề nổi bật gắn bó với nhau: sức mạnh của dân chúng được tập hợp, thống nhất và vai trò của một đảng cách mạng vững vàng. Đó là cơ sở để nhận diện hai bài học xuyên suốt tác phẩm: xây dựng khối đại đoàn kết và vai trò lãnh đạo của Đảng.
Cần đặt những chỉ dẫn này trong bối cảnh Việt Nam đầu thế kỷ XX. Lòng yêu nước sâu sắc và tinh thần đấu tranh bền bỉ đã làm nên nhiều phong trào chống Pháp, nhưng chưa đủ để khắc phục sự phân tán về lực lượng và hạn chế về đường lối. Yêu cầu lịch sử đặt ra là chuyển lòng yêu nước thành phong trào có tổ chức, có mục tiêu thống nhất và có lực lượng lãnh đạo đủ khả năng dẫn dắt đi tới thành công. Lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc tiếp nhận kinh nghiệm Cách mạng Tháng Mười từ chính đòi hỏi ấy, bằng trí tuệ mẫn tiệp, tư duy độc lập và sự am hiểu thực tiễn dân tộc.
Nhìn từ yêu cầu phát triển đất nước hôm nay, hai bài học đó gợi mở một quan hệ căn bản: khát vọng phát triển đất nước thịnh vượng, hùng cường trở thành sức mạnh hiện thực khi quy tụ được ý chí và sự tham gia của nhân dân, dưới sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng. Đoàn kết tạo nguồn lực xã hội; sự lãnh đạo xác định phương hướng và tổ chức nguồn lực ấy thành sức mạnh vô song. Đây cũng là điểm gặp gỡ giữa giá trị lịch sử của tác phẩm với những yêu cầu của đất nước trong giai đoạn mới.

Tác phẩm Đường Kách mệnh (Ảnh tư liệu)
Đại đoàn kết từ giác ngộ dân chúng đến tổ chức sức mạnh toàn dân
Điểm xuất phát của tư tưởng tập hợp lực lượng trong Đường Kách mệnh là nhận thức về vai trò chủ thể của nhân dân.
Ngay khi xác định mục đích cuốn sách, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc đã nêu rõ: “…cách mệnh là việc chung cả dân chúng chứ không phải việc một hai người”[2].
Chỉ bằng một câu ngắn gọn nhưng làm sáng tỏ một chuyển biến quan trọng trong tư duy cứu nước: sự nghiệp giải phóng phải trở thành công việc tự giác của đông đảo nhân dân. Người dân cần hiểu vì sao phải đấu tranh, hiểu trách nhiệm của mình và cùng tham gia vào một tổ chức có mục tiêu chung.
Từ nhận thức ấy, đoàn kết trước hết đòi hỏi giác ngộ của quần chúng nhân dâm. Những con người cùng chịu áp bức chưa tự nhiên trở thành một lực lượng thống nhất; lòng yêu nước cũng cần được dẫn dắt bằng hiểu biết về con đường giải phóng.
Việc mở lớp huấn luyện, truyền bá lý luận và xây dựng tổ chức mà lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc tiến hành chính là quá trình tạo dựng sự thống nhất từ nhận thức đến hành động. Sức mạnh quần chúng được hình thành khi mỗi người hiểu việc chung và tìm thấy trách nhiệm của mình trong việc chung ấy.
Xác định lực lượng nền tảng, Người chỉ rõ: “công nông là gốc cách mệnh”; đồng thời nhận diện học trò, nhà buôn nhỏ, điền chủ nhỏ là những lực lượng có thể gắn bó với công nông trong cuộc đấu tranh.[3]
Cần hiểu cách phân định ấy trong cơ cấu xã hội thuộc địa đương thời. Tác phẩm vừa xác lập chỗ dựa bền vững của cách mạng, vừa mở ra khả năng tập hợp các tầng lớp khác với mẫu số chung là yêu nước và cùng có nguyện vọng giải phóng dân tộc và giải phóng chính bản thân họ. Từ cơ sở đó, tư tưởng đoàn kết tiếp tục được phát triển trong đường lối và thực tiễn xây dựng mặt trận dân tộc thống nhất.
Bài học đại đoàn kết vì thế không dừng ở việc quy tụ số đông. Điều cốt yếu là tìm được mục tiêu chung, xác lập nền tảng liên minh và có phương thức tổ chức thích hợp để các lực lượng cùng hành động. Trong cuộc đấu tranh giành độc lập, mục tiêu giải phóng dân tộc đã khơi dậy sự đồng lòng rộng lớn.
Qua các thời kỳ kháng chiến và xây dựng đất nước, sức mạnh ấy tiếp tục được bồi đắp bằng sự gắn bó giữa lợi ích dân tộc với quyền lợi chính đáng của các tầng lớp nhân dân.
Trong điều kiện hiện nay, việc phát huy đại đoàn kết đòi hỏi nhận thức đầy đủ hơn những biến đổi của cơ cấu xã hội, nghề nghiệp và nhu cầu phát triển. Trên nền tảng liên minh giữa giai cấp công nhân, giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức, cần tạo điều kiện để doanh nhân, thanh niên, phụ nữ, đồng bào các dân tộc, các tôn giáo và người Việt Nam ở nước ngoài phát huy khả năng đóng góp xây dựng đất nước. Mỗi lực lượng có thế mạnh và mối quan tâm riêng; chính sách phải tìm được sự thống nhất trong mục tiêu phát triển đất nước và bảo vệ lợi ích hợp pháp, chính đáng của Nhân dân.
Vai trò lãnh đạo của Đảng trong quy tụ và dẫn dắt sức mạnh dân tộc
Nếu đại đoàn kết trả lời câu hỏi cách mạng dựa vào sức mạnh nào, thì vai trò lãnh đạo của Đảng trả lời câu hỏi sức mạnh ấy được định hướng và tổ chức ra sao.
Trong Đường Kách mệnh, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc đặt vấn đề: “Cách mệnh trước hết phải có cái gì?” và trả lời: “Trước hết phải có đảng cách mệnh, để trong thì vận động và tổ chức dân chúng, ngoài thì liên lạc với dân tộc bị áp bức và vô sản giai cấp mọi nơi”[4]. Sự cần thiết của Đảng được luận giải từ chính yêu cầu vận động, tập hợp và tổ chức lực lượng cách mạng.

Nghiên cứu Cách mạng Tháng Mười Nga, Nguyễn Ái Quốc tìm thấy những bài học vô giá cho cách mạng Việt Nam (Ảnh tư liệu)
Người khẳng định: “Đảng có vững cách mệnh mới thành công, cũng như người cầm lái có vững thuyền mới chạy”[5]. Hình ảnh người cầm lái làm rõ trách nhiệm xác định phương hướng, giữ vững mục tiêu và đưa phong trào vượt qua thử thách. Vai trò lãnh đạo vì thế phải được thể hiện bằng đường lối phù hợp và năng lực tổ chức nhân dân thực hiện đường lối ấy. Một chủ trương đúng chỉ phát huy sức mạnh khi được quần chúng hiểu, tin và tham gia thực hiện.
Sự vững mạnh của Đảng trước hết bắt nguồn từ nền tảng tư tưởng. Lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc viết: “Đảng muốn vững thì phải có chủ nghĩa làm cốt, trong đảng ai cũng phải hiểu, ai cũng phải theo chủ nghĩa ấy”[6]. Đây là yêu cầu về sự thống nhất trong nhận thức và hành động, đồng thời đặt ra trách nhiệm học tập lý luận của người đảng viên. Vận dụng tinh thần ấy hôm nay đòi hỏi kiên định nền tảng tư tưởng của Đảng, nâng cao năng lực tổng kết thực tiễn và giải quyết những vấn đề mới, tránh biến lý luận thành những công thức tách rời đời sống.
Cùng với nền tảng tư tưởng là tư cách của người cách mạng. Tác phẩm đặt nội dung này ở phần mở đầu, trong đó nhấn mạnh “Nói thì phải làm” và “Phục tùng đoàn thể”[7].
Những yêu cầu ngắn gọn thể hiện mối liên hệ giữa phẩm chất cá nhân, kỷ luật tổ chức và uy tín chính trị. Đối với một đảng lãnh đạo, cầm quyền, sự gương mẫu của cán bộ càng có ý nghĩa trực tiếp: lời nói phải được bảo đảm bằng việc làm, quyền hạn phải đi cùng trách nhiệm, lợi ích chung phải được đặt lên trên lợi ích riêng.
Thực tiễn cách mạng Việt Nam cho thấy sự lãnh đạo của Đảng và sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc luôn gắn bó chặt chẽ với nhau. Đảng xác định mục tiêu, xây dựng đường lối và tổ chức lực lượng; nhân dân biến đường lối thành phong trào và thành quả cách mạng. Chính thực tiễn của nhân dân lại cung cấp cơ sở để Đảng kiểm nghiệm, bổ sung, phát triển đường lối. Bởi vậy, giữ vững vai trò lãnh đạo phải đi đôi với gắn bó mật thiết với nhân dân, lắng nghe những phản ánh từ cơ sở và kịp thời sửa chữa hạn chế trong tổ chức thực hiện.
Đặt trong yêu cầu triển khai Nghị quyết Đại hội XIV, bài học ấy hướng tới việc nâng cao năng lực lãnh đạo phát triển: nhận diện đúng điểm nghẽn, lựa chọn nhiệm vụ trọng tâm, sử dụng hiệu quả nguồn lực và chịu trách nhiệm về kết quả. Xây dựng Đảng vững mạnh cần được thể hiện ở chất lượng đội ngũ cán bộ, hiệu lực kiểm tra, giám sát và khả năng giải quyết công việc vì lợi ích của nhân dân. Mỗi quyết sách tạo thêm cơ hội phát triển, mỗi hành động bảo vệ quyền lợi chính đáng của người dân đều góp phần củng cố nền tảng xã hội của sự lãnh đạo.
Từ Đường Kách mệnh có thể thấy, đại đoàn kết và sự lãnh đạo của Đảng là hai bài học gắn bó trong suốt quá trình cách mạng. Đảng có trách nhiệm khơi dậy, quy tụ và tổ chức sức mạnh nhân dân; sự gắn bó, tin cậy và ủng hộ của nhân dân tạo nền tảng để Đảng hoàn thành trách nhiệm ấy. Vận dụng sáng tạo mối quan hệ này chính là một cơ sở quan trọng để chuyển khát vọng Việt Nam thịnh vượng thành kết quả phát triển thiết thực.
Vận dụng sáng tạo để hiện thực hóa khát vọng thịnh vượng, hùng cường
Bước vào giai đoạn phát triển mới, bài học từ Đường Kách mệnh cần được nghiên cứu với tinh thần lịch sử và sáng tạo. Thế giới đã biến đổi sâu sắc; công nghệ, quan hệ sản xuất và phương thức quản trị đang đặt ra những vấn đề chưa từng có. Giá trị của di sản tư tưởng được phát huy khi giúp nhận diện đúng thực tiễn và tìm ra cách giải quyết phù hợp, tránh áp dụng máy móc kinh nghiệm của một hoàn cảnh khác.
Nghị quyết Đại hội XIV tiếp tục khẳng định việc kiên định, vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; đồng thời xác định khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số là động lực chính của mô hình tăng trưởng mới [8].
Đặt trong mạch nghiên cứu tác phẩm, đây là yêu cầu kết hợp nền tảng tư tưởng vững chắc với khả năng tiếp thu tri thức và đổi mới phương thức phát triển.
Yêu cầu này được tiếp tục đặt ra trong Nghị quyết số 31-NQ/TW ngày 15/10/2026 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV về tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh toàn diện, đáp ứng yêu cầu phát triển của đất nước trong kỷ nguyên mới[9]. Liên hệ với Đường Kách mệnh, có thể thấy xây dựng Đảng phải gắn chặt với trách nhiệm trước nhân dân và nhiệm vụ phát triển.
Nghị quyết số 29-NQ/TW cùng ngày về tiếp tục đổi mới, hoàn thiện phương thức lãnh đạo, cầm quyền của Đảng nhấn mạnh yêu cầu chuyển hóa đường lối thành kết quả thực tiễn, phân định rõ chức năng, thẩm quyền và trách nhiệm[10]. Từ định hướng ấy, mỗi cấp ủy cần xác định được vấn đề trọng tâm, giao nhiệm vụ rõ ràng, kiểm tra tiến độ và chịu trách nhiệm về kết quả. Năng lực lãnh đạo được thể hiện trong khả năng giải quyết công việc đến cùng.
Đồng thời, Nghị quyết số 30-NQ/TW ngày 15/10/2026 về xây dựng đội ngũ cán bộ và đổi mới công tác cán bộ đề cao phẩm chất, thực tài, sản phẩm và hiệu quả công tác[11]. Điều này gợi ra yêu cầu vận dụng bài học về tổ chức bằng việc lựa chọn đúng người, giao đúng việc và đánh giá qua đóng góp được kiểm chứng. Cán bộ có năng lực cần được tạo điều kiện cống hiến; việc né tránh trách nhiệm phải được nhận diện và xử lý kịp thời.
Ở góc độ tổ chức thực hiện, mỗi địa phương, cơ quan có thể bắt đầu từ những việc thuộc trách nhiệm của mình: tháo gỡ một thủ tục gây trở ngại, nâng chất lượng đào tạo nghề, hỗ trợ ứng dụng kỹ thuật vào sản xuất, giải quyết kiến nghị tồn đọng… Khi mục tiêu lớn được chuyển thành công việc rõ người, rõ kết quả, nguồn lực xã hội sẽ được sử dụng hiệu quả hơn. Đó là cách gắn sức mạnh nhân dân với năng lực tổ chức của hệ thống chính trị.
Đọc lại Đường Kách mệnh hôm nay, bài học Cách mạng Tháng Mười Nga vẫn gợi nhắc một quan hệ căn bản: Đảng vững mạnh để dẫn dắt và tổ chức, nhân dân là nguồn sức mạnh, hạnh phúc của nhân dân là đích đến. Giữ vững quan hệ ấy trong từng quyết sách và hành động sẽ góp phần chuyển khát vọng Việt Nam thịnh vượng, hùng cường thành hiện thực.
[1] Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia - Sự thật, Hà Nội, 2011, 1.2, tr. 304.
[2] Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.2, tr. 283.
[3] Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.2, tr. 297
[4] Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.2, tr. 289.
[5] Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.2. tr. 289.
[6] Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.2, tr. 289.
[7] Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sdđ, tr. 280-281.
[8] Xem: Đảng Cộng sản Việt Nam: Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2026.
[9] Ban Chấp hành Trung ương Đảng: Nghị quyết số 31-NQ/TW ngày 15/10/2026 về tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh toàn diện, đáp ứng yêu cầu phát triển của đất nước trong kỷ nguyên mới.
[10] Ban Chấp hành Trung ương Đảng: Nghị quyết số 29-NQ/TW ngày 15/10/2026 về tiếp tục đổi mới, hoàn thiện phương thức lãnh đạo, cầm quyền của Đảng trong kỷ nguyên mới.
[11] Ban Chấp hành Trung ương Đảng: Nghị quyết số 30-NQ/TW ngày 15/10/2026 về tiếp tục xây dựng đội ngũ cán bộ các cấp và đổi mới căn bản, toàn diện công tác cán bộ đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới.
