Thực tiễn triển khai Nghị quyết số 57-NQ/TW tại Cần Thơ cho thấy, thể chế và hạ tầng chỉ tạo nền tảng, còn năng lực thực thi mới quyết định kết quả. Trong đó, Trường Chính trị là thiết chế góp phần kiến tạo năng lực quản trị, đồng hành cùng địa phương tạo giá trị phát triển trong quá trình thực thi Nghị quyết số 57-NQ/TW.

Sau hơn một năm triển khai Nghị quyết số 57-NQ/TW của Bộ Chính trị, bức tranh phát triển tại thành phố Cần Thơ đã có những chuyển biến mang tính nền tảng. Quá trình tổ chức thực hiện tại địa phương thể hiện sự chủ động trong việc cụ thể hóa chủ trương của Trung ương thành các kế hoạch, giải pháp phù hợp với điều kiện thực tiễn. Thành phố đã từng bước hình thành các yếu tố cấu thành nên một hệ sinh thái thực thi, đúc kết trên ba phương diện cơ bản.

Thứ nhất, chủ động kiến tạo nền tảng thể chế. Thành phố Cần Thơ đã ban hành đồng bộ các chương trình, kế hoạch và cơ chế điều hành nhằm cụ thể hóa Nghị quyết 57-NQ/TW. Việc kiện toàn cơ chế chỉ đạo, tăng cường phối hợp liên ngành và lồng ghép các mục tiêu phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số vào chương trình phát triển kinh tế - xã hội đã tạo hành lang pháp lý để các chủ trương từng bước đi vào thực tiễn quản lý.

Thứ hai, đẩy mạnh kiến tạo năng lực cho đội ngũ cán bộ. Xác định con người là yếu tố trung tâm quyết định sự thành bại của chính sách, thành phố Cần Thơ đã tập trung mở rộng các chương trình đào tạo, bồi dưỡng kỹ năng số và tư duy quản trị mới. Cụ thể, thông qua việc triển khai Kế hoạch số 72-KH/TU của Ban Thường vụ Thành ủy Cần Thơ về đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực phục vụ phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số, khối Đảng đã tổ chức 33 lớp với 2.310 học viên; toàn thành phố mở 74 lớp đào tạo, tập huấn kỹ năng số cho 4.942 lượt cán bộ, công chức, viên chức và thành viên các tổ công nghệ số cộng đồng[1]. Nội dung đào tạo đã bước đầu cập nhật các tri thức hiện đại như quản trị dữ liệu, chính quyền số, trí tuệ nhân tạo (AI) và kỹ năng ứng dụng công nghệ trong công vụ cho đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức trên địa bàn.

Thứ ba, tạo dựng môi trường chuyển đổi số và đổi mới sáng tạo. Thành phố đã chú trọng tổ chức các diễn đàn, hội thảo chuyên đề nhằm nâng cao nhận thức, phổ biến mô hình tốt và thúc đẩy sự tham gia của các cấp, các ngành. Trong thời gian qua, toàn địa bàn đã tổ chức 252 hội nghị, hội thảo với 25.488 lượt người tham dự, tạo nên bầu không khí đổi mới tư duy trong hệ thống chính trị[2]. Những kết quả trên là minh chứng rõ nét cho sự nỗ lực của thành phố Cần Thơ trong việc chủ động tạo dựng nền tảng cho chuyển đổi số và đổi mới sáng tạo.

Tuy nhiên, thực tiễn đặt ra vấn đề cốt lõi: vì sao cùng một chủ trương, chính sách nhưng kết quả thực thi giữa các cơ quan, đơn vị, địa phương vẫn có sự khác biệt? Câu trả lời cho thấy một thực tế: thể chế, chính sách và hạ tầng số mới chỉ tạo ra điều kiện cần; yếu tố quyết định là năng lực chuyển hóa chủ trương thành hành động, hành động thành kết quả và kết quả thành giá trị phát triển của đội ngũ cán bộ và cả hệ thống chính trị. Đây cũng chính là điểm nghẽn mà Cần Thơ cần tập trung tháo gỡ trong quá trình thực thi Nghị quyết số 57-NQ/TW.

Nhận diện ba khoảng trống trong quá trình tổ chức thực hiện Nghị quyết số 57-NQ/TW

Thực tiễn tổ chức thực hiện Nghị quyết số 57-NQ/TW tại Cần Thơ đang tồn tại ba vấn đề lớn cần tháo gỡ.

Một là, khoảng cách giữa ứng dụng công nghệ số và đổi mới phương thức quản trị. Tại không ít cơ quan, đơn vị, chuyển đổi số vẫn bị thu hẹp thành việc số hóa tài liệu, đầu tư trang thiết bị kỹ thuật hay triển khai các phần mềm tác nghiệp rời rạc. Trong khi đó, hạt nhân cốt lõi của Nghị quyết số 57-NQ/TW là sự thay đổi tư duy lãnh đạo, đổi mới quy trình vận hành và phương thức ra quyết định dựa trên dữ liệu. Việc chỉ số hóa các quy trình thủ công sẵn có mà không tái cấu trúc phương thức quản trị sẽ khó tạo ra bước chuyển về chất trong hiệu lực, hiệu quả hoạt động của bộ máy chính quyền.

Hai là, vai trò của đổi mới sáng tạo chưa thực sự trở thành động lực phát triển trụ cột. Trong bốn thành tố của Nghị quyết số 57-NQ/TW, các khía cạnh về khoa học, công nghệ và chuyển đổi số đã nhận được sự đầu tư khá rõ nét, trong khi đổi mới sáng tạo vẫn chưa phát huy trọn vẹn vai trò kiến tạo giá trị gia tăng mới. Mối liên kết giữa các cơ quan quản lý nhà nước với các cơ sở đào tạo, viện nghiên cứu và khối doanh nghiệp còn thiếu tính bền vững; cơ chế khuyến khích thử nghiệm sáng kiến, đặt hàng nghiên cứu và đưa kết quả nghiên cứu vào thực tiễn địa phương vẫn vướng mắc về mặt thủ tục và nguồn lực.

Ba là, năng lực thực thi ở cấp cơ sở chưa theo kịp yêu cầu của giai đoạn phát triển mới. Cấp xã, phường là nơi trực tiếp giải quyết các yêu cầu của nhân dân và doanh nghiệp. Khi triển khai Nghị quyết số 57-NQ/TW, cán bộ cơ sở phải đồng thời gánh vác nhiều nhiệm vụ mới phức tạp như quản trị dữ liệu dân cư, cải cách thủ tục hành chính trên môi trường số và ứng dụng các công cụ công nghệ mới. Dù một số nơi đã được phân cấp thẩm quyền và nguồn lực, nhưng năng lực cán bộ không đồng đều, việc tiếp cận công nghệ như AI còn khoảng cách, dẫn đến tình trạng lúng túng trong khâu xây dựng kế hoạch và tổ chức thực hiện, khiến hiệu quả đạt được chưa tương xứng với kỳ vọng.

Trường Chính trị thành phố Cần Thơ: Từ cơ sở đào tạo đến thiết chế kiến tạo năng lực thực thi

Nằm trong bộ máy chính trị địa phương, Trường Chính trị không chỉ giữ vai trò truyền thụ lý luận mà còn mang sứ mệnh của một thiết chế kiến tạo năng lực thực thi cho địa phương thông qua bốn chức năng chiến lược.

Thứ nhất, phát triển năng lực lãnh đạo và quản trị trong kỷ nguyên số. Công tác đào tạo cán bộ cần chuyển mạnh từ tiếp cận tri thức lý thuyết thuần túy sang tiếp cận theo năng lực thực hành. Bên cạnh nền tảng lý luận chính trị và quản lý nhà nước, chương trình học cần lồng ghép các chuyên đề sâu về tư duy số, quản trị dữ liệu công, xây dựng chính quyền số và kỹ năng ứng dụng AI trong xử lý công vụ. Sự chuyển đổi này giúp cán bộ không chỉ “biết làm” theo quy trình có sẵn mà “biết kiến tạo” các giải pháp mới phù hợp với thực tiễn khắt khe.

Thứ hai, tổng kết thực tiễn và chuyển hóa tri thức thành chính sách. Quá trình triển khai Nghị quyết số 57-NQQ/TW nảy sinh nhiều vấn đề mới chưa có tiền lệ như quản trị an toàn dữ liệu, đạo đức số hay ứng dụng thuật toán AI trong khu vực công. Đội ngũ giảng viên, nghiên cứu viên Trường Chính trị có lợi thế thâm nhập thực tế cơ sở, thấu hiểu điểm nghẽn của địa phương. Thông qua các đề tài nghiên cứu, khảo sát thực tế và báo cáo tổng kết mô hình, nhà trường cung cấp các luận cứ khoa học sắc bén, giúp cấp ủy và chính quyền bổ sung, hoàn thiện các cơ chế, chính sách vận hành.

Thứ ba, tham vấn, phản biện và đồng hành cùng chính quyền địa phương. Mỗi địa phương có những đặc thù riêng, không thể áp dụng một mô hình chuyển đổi số cứng nhắc. Trường Chính trị với lực lượng chuyên gia liên ngành về xây dựng Đảng, nhà nước, pháp luật có đủ năng lực tham gia phản biện độc lập các dự thảo chương trình, đề án phát triển của thành phố. Đồng thời, nhà trường đóng vai trò tư vấn, đồng hành cùng các sở, ngành và chính quyền cơ sở trong quá trình triển khai, đánh giá tác động chính sách.

Thứ tư, kết nối hệ sinh thái đổi mới sáng tạo. Nghị quyết số 57-NQ/TW yêu cầu sự vào cuộc của toàn bộ hệ thống chính trị, doanh nghiệp và cộng đồng. Trường Chính trị thành phố Cần Thơ có vị thế thuận lợi để trở thành trung tâm kết nối, mở ra các diễn đàn trao đổi giữa nhà quản lý, nhà khoa học, doanh nghiệp và lực lượng cán bộ thực thi ở cơ sở, thúc đẩy việc chia sẻ tri thức và lan tỏa các mô hình quản trị hiệu quả.

Ảnh: Một buổi học tại lớp kiến thức, kỹ năng số cho cán bộ, công chức, viên chức trong hệ thống chính trị tại Trường Chính trị thành phố Cần Thơ (Nguồn: https://btgdv.cantho.gov.vn)

Bốn gợi mở chính sách và mô hình “Chu trình kiến tạo giá trị”

Thứ nhất, định vị Trường Chính trị thành một trung tâm nghiên cứu và tham vấn chính sách của địa phương. Giá trị cốt lõi của mô hình này là cung cấp cho Thành ủy và Ủy ban nhân dân thành phố các phân tích chính sách dựa trên bằng chứng thực tiễn và luận cứ khoa học. Nhà trường sẽ chủ trì nghiên cứu các bài toán phát triển thực tế, đánh giá độc lập hiệu quả triển khai các chương trình chuyển đổi số và đề xuất giải pháp tháo gỡ điểm nghẽn.

Thứ hai, thiết lập cơ chế giao nhiệm vụ gắn với sản phẩm và giá trị đầu ra. Cần thay đổi tư duy quản lý đào tạo truyền thống vốn đo lường bằng số lượng lớp học hay lượt học viên. Thay vào đó, chính quyền địa phương giao nhiệm vụ cho Trường Chính trị gắn với các sản phẩm cụ thể như: báo cáo tư vấn chính sách được tiếp thu, tài liệu bồi dưỡng chuẩn hóa về AI và quản trị dữ liệu, các đề tài giải quyết vướng mắc thực tế tại cấp xã, hoặc mô hình thí điểm quản trị số ở cơ sở.

Thứ ba, xây dựng và vận hành “Chu trình kiến tạo giá trị” trong tổ chức thực hiện nghị quyết. Mô hình này chuyển tư duy từ quản lý hành chính sang kiến tạo giá trị công thông qua 5 bước khép kín:

Bước 1 - Xác định bài toán phát triển: Địa phương xác định các bài toán ưu tiên cần tháo gỡ (như nâng cao chất lượng dịch vụ công số, quản trị dữ liệu dân cư, ứng dụng AI trong quản lý).

Bước 2 - Đăng ký nhiệm vụ: Các sở, ngành và địa phương đăng ký thực hiện nhiệm vụ gắn với mục tiêu, sản phẩm đầu ra và tiến độ rõ ràng.

Bước 3 - Thiết chế chuyên môn đồng hành: Trường Chính trị cùng các viện, trường phối hợp hỗ trợ phương án triển khai, đào tạo kỹ năng và tư vấn nghiệp vụ.

Bước 4 - Đầu tư theo sản phẩm: Nguồn lực tài chính được phân bổ dựa trên chất lượng và khả năng ứng dụng thực tế của sản phẩm thay vì dự toán chi thường xuyên.

Bước 5 - Đánh giá, nhân rộng và tái đầu tư: Đánh giá hiệu quả tác động, tổng kết mô hình hay để nhân rộng và tiếp tục tái đầu tư.

Thứ tư, phát triển khoa học xã hội và nhân văn tạo “hạ tầng mềm” cho chuyển đổi số. Trong thời gian qua, các nguồn lực thường tập trung cho hạ tầng kỹ thuật, phần mềm và thiết bị công nghệ. Tuy nhiên, chuyển đổi số về bản chất là cuộc cách mạng về phương thức quản trị, thể chế và hành vi con người.

Trí tuệ nhân tạo và hạ tầng dữ liệu dù hiện đại đến đâu cũng không thể thay thế vai trò của pháp luật trong điều chỉnh các quan hệ xã hội mới, không thể thay thế đạo đức công vụ trong việc định hướng sử dụng công nghệ vì lợi ích công, và không thể thay thế văn hóa đổi mới trong việc tạo dựng sự đồng thuận xã hội. Khoa học xã hội và nhân văn chính là “hạ tầng mềm” cung cấp các luận cứ về quản trị công, văn hóa số, đạo đức AI và tâm lý tổ chức - những yếu tố quyết định sự thành bại của quá trình chuyển đổi.

Trường Chính trị, với thế mạnh về khoa học chính trị, quản lý nhà nước và xã hội, chính là lực lượng nòng cốt xây dựng “hạ tầng mềm” này. Khi năng lực công nghệ kết hợp hài hòa với năng lực quản trị xã hội, chuyển đổi số mới thực sự trở thành động lực phát triển bứt phá và bền vững.

Từ thực tiễn thành phố Cần Thơ, việc chuyển đổi Trường Chính trị từ một cơ sở đào tạo truyền thống thành thiết chế kiến tạo năng lực thực thi là một hướng đi đột phá. Mô hình này không chỉ giúp tháo gỡ những khoảng trống trước mắt trong triển khai Nghị quyết số 57-NQ/TW tại Cần Thơ, mà còn gợi mở một cách tiếp cận có giá trị tham khảo cho các địa phương trên cả nước trong hành trình nâng cao năng lực quản trị, đưa các chủ trương lớn của Đảng vào cuộc sống./.

 

[1] Thành ủy Cần Thơ, Kế hoạch số 72-KH/TU về đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực phục vụ phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số, 2025.

[2] Thành ủy Cần Thơ, Báo cáo số 11-BC/BCĐ, ngày 18/6/2026 của Ban chỉ đạo thành phố về phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số về tình hình thực hiện Nghị quyết số 57-NQ/TW của Bộ Chính trị sau 1 năm 6 tháng triển khai, 2026.