Dự báo một số xu hướng đáng chú ý trong điều chỉnh chiến lược kinh tế của các nước lớn đến 2050
Một là, giảm rủi ro từ các chuỗi cung ứng đến từ các đối thủ và tăng cường nền sản xuất nội địa, thực hiện bảo hộ kinh tế mạnh mẽ hơn.
Với các rủi ro đứt gãy chuỗi cung ứng do cạnh tranh chiến lược ngày càng gay gắt, trong thời gian tới các nước lớn sẽ có xu hướng chủ động giảm mạnh sự phụ thuộc vào các đối thủ cạnh tranh và đa dạng hóa các đối tác trong chuỗi cung ứng. Đồng thời, các nước lớn cũng sẽ chủ động đưa ra các chính sách kinh tế mang tính bảo hộ hơn, hướng vào bên trong nhiều hơn nhằm giảm thiểu sự phụ thuộc vào các chuỗi cung ứng bên ngoài, từ đó giảm thiểu rủi ro đối với nền kinh tế. Xu hướng này đã bắt đầu diễn ra trong những năm gần đây và sẽ phát triển mạnh trong những năm tiếp theo.
Ví dụ như Mỹ ban hành các Đạo luật Giảm lạm phát, CHIPS và khoa học, Buy America… nhằm thúc đẩy thị trường nội địa, khôi phục nền sản xuất trong nước, đưa các ngành sản xuất cốt lõi trở lại nước Mỹ hoặc tới các quốc gia đối tác thân cận. Trung Quốc từ năm 2020 đã khởi xướng chiến lược “Vòng tuần hoàn kép”, trong đó lấy vòng tuần hoàn trong nước làm chủ đạo, là động lực tăng trưởng chính, giảm bớt sự phụ thuộc vào xuất khẩu và thị trường phương Tây, đồng thời dồn lực tự chủ các công nghệ cốt lõi. Ấn Độ triển khai chiến lược “Ấn Độ tự cường” với trọng tâm chính nằm ở lĩnh vực kinh tế, nhằm mục tiêu xây dựng một quốc gia tự chủ, vững mạnh, có khả năng thích ứng chủ động với các thay đổi từ môi trường bên ngoài.
Hai là, vũ khí hóa sự phụ thuộc lẫn nhau về kinh tế. Trong giai đoạn đỉnh cao của quá trình toàn cầu hóa, sự phụ thuộc lẫn nhau về kinh tế được ví như “tấm áo giáp” ngăn chặn xung đột giữa các quốc gia. Tuy nhiên, trong thời gian tới, chính sự phụ thuộc đó sẽ ngày càng trở thành một loại “vũ khí” trong quan hệ giữa các nền kinh tế. Khái niệm “vũ khí hóa sự phụ thuộc lẫn nhau” do Henry Farrell và Abraham L. Newman đưa ra vào năm 2019 đã chỉ ra rằng các cường quốc kiểm soát các “nút thắt cổ chai” trong hệ thống kinh tế toàn cầu có thể khai thác vị thế này để gây sức ép đối với đối thủ[1].
Ví dụ, Hoa Kỳ đã và đang sử dụng ưu thế tuyệt đối của mình trong hệ thống thanh toán tài chính bằng đồng USD hoặc vị thế độc quyền nắm giữ các công nghệ thiết kế lõi của ngành bán dẫn để gây áp lực với các nền kinh tế khác. Ở chiều ngược lại, Trung Quốc tận dụng vị thế công xưởng thế giới và sự thống trị trong tinh chế đất hiếm và các khoáng sản thiết yếu cho các ngành công nghệ cao để trả đũa. Khi xu hướng vũ khí hóa sự phụ thuộc lẫn nhau trở nên phổ biến, cấu trúc của nền kinh tế toàn cầu sẽ đi theo một hình thái mới, chủ yếu là các động thái tấn công và phòng thủ hơn là chia sẻ lợi ích thương mại chung[2].
Ba là, tập hợp lực lượng trên lĩnh vực kinh tế được đẩy mạnh thông qua các xu hướng liên kết kinh tế mới.
Nếu như trước đây các liên kết kinh tế chủ yếu tập trung vào mở rộng thị trường cho hàng hóa, dịch vụ, mở rộng đầu tư, tạo lập thị trường chung… thì trong thời gian tới, với tác động mạnh mẽ của cách mạng công nghệ 4.0 và các yêu cầu cấp bách trong việc giải quyết các vấn đề môi trường, khí hậu thì các nền kinh tế chủ chốt trên thế giới được dự đoán sẽ tăng cường tập hợp lực lượng thông qua các liên kết mới như liên kết kinh tế số, liên kết kinh tế xanh, liên kết kinh thế theo các mặt hàng chiến lược… Đến năm 2050, các cường quốc một mặt sẽ chủ động triển khai các chiến lược, chính sách thúc đẩy kinh tế số trong nước, mặt khác sẽ tăng cường các liên kết trong các khuôn khổ song phương và đa phương liên quan đến kinh tế số. Tuy nhiên, do những khác biệt nhất định về cách tiếp cận trong quản trị nền kinh tế số, thời gian tới sẽ xuất hiện các tập hợp lực lượng liên quan đến kinh tế số theo các tiêu chuẩn riêng biệt.
Bên cạnh kinh tế số, các liên kết kinh tế xanh sẽ nở rộ trong thời gian tới do yêu cầu cấp bách về việc ứng phó với biến đổi khí hậu. Các cường quốc sẽ tiếp tục thúc đẩy các chính sách phát triển kinh tế xanh trong chiến lược phát triển tổng thể của quốc gia, đồng thời tăng cường hợp tác với bên ngoài trong các cơ chế liên kết song phương/đa phương đã có trước đó cũng như thúc đẩy sự ra đời của các cơ chế mới. Các tập hợp lực lượng xoay quanh lĩnh vực kinh tế xanh không chỉ là vấn đề hợp tác phát triển gắn với bảo vệ môi trường mà còn là chiến lược thể hiện vai trò dẫn dắt của các cường quốc đối với tương lai của thế giới. Do đó, từ nay đến 2050, các cường quốc sẽ đẩy mạnh xu hướng này nhằm cạnh tranh ảnh hưởng và vị thế đối với một vấn đề mang tính sống còn của nhân loại.
Đặc biệt, các mặt hàng chiến lược (khoáng sản thiết yếu và các công nghệ lõi…) cũng sẽ trở thành nhân tố thúc đẩy các liên kết kinh tế mạnh mẽ giữa các quốc gia có chung lợi ích. Trước bối cảnh cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn sẽ tiến triển ngày càng gay gắt trong thời gian tới, vấn đề đảm bảo an toàn và bền vững của chuỗi cung ứng nói chung và sự ổn định của các mặt hàng chiến lược nói riêng là yếu tố then chốt nhằm đảm bảo ưu thế của mỗi cường quốc trước đối thủ. Do đó, từ nay đến năm 2050, các cường quốc sẽ tiếp tục đẩy mạnh các tập hợp lực lượng về các mặt hàng chiến lược với các quốc gia cùng chia sẻ lợi ích nhằm đạt được lợi thế cạnh tranh trước các đối thủ của mình.
Dự báo các kịch bản của cục diện kinh tế thế giới đến năm 2050
Với các xu hướng nêu trên trong chiến lược kinh tế của các nước lớn đến năm 2050, cục diện kinh thế giới có thể đi theo các kịch bản dưới đây:
Kịch bản 1: Phân mảnh kinh tế cực đoan và hình thành hai khối kinh tế độc lập.
Trong kịch bản này, xu hướng “vũ khí hóa sự phụ thuộc lẫn nhau” và “giảm rủi ro” bị đẩy đi quá xa, dẫn đến một sự tách rời thực sự và toàn diện giữa hai khối kinh tế do hai cường quốc kinh tế lớn nhất thế giới dẫn dắt. Sự phụ thuộc vào các nút thắt cổ chai về bán dẫn hay khoáng sản thiết yếu khiến các cường quốc quyết định hy sinh hiệu quả kinh tế để đổi lấy sự tự chủ tuyệt đối. Kết quả là sự ra đời của hai hệ sinh thái kinh tế hoàn toàn biệt lập, từ hệ thống thanh toán tài chính cho đến các chuỗi cung ứng hàng hóa chiến lược.
Khả năng xảy ra của kịch bản này được đánh giá ở mức tương đối thấp (khoảng 20%). Lý do chính nằm ở chi phí kinh tế khổng lồ mà các quốc gia phải gánh chịu. Theo nghiên cứu của Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF), sự phân mảnh kinh tế cực đoan có thể làm giảm GDP toàn cầu từ 2% đến 7% trong dài hạn, và nếu bao gồm cả sự đứt gãy về công nghệ, con số này có thể lên tới 12% ở một số quốc gia[3]. Sự phụ thuộc lẫn nhau quá sâu sắc trong cấu trúc sản xuất toàn cầu hiện nay khiến việc tách rời hoàn toàn giống như một cuộc “đại phẫu” mà không có thuốc tê, do đó sẽ là phương án các quốc gia khó chấp nhận.
Kịch bản 2: Sự phục hồi mạnh mẽ của toàn cầu hóa và các liên kết kinh tế giữa các cường quốc
Kịch bản này giả định rằng sau một giai đoạn bảo hộ và vũ khí hóa kinh tế gây ra những tổn thất nặng nề đối với các quốc gia, cùng với áp lực to lớn từ biến đổi khí hậu và các tác động tiêu cực của công nghệ vượt tầm kiểm soát vào những thập niên tới, các cường quốc buộc phải quay trở lại với lựa chọn hợp tác chặt chẽ nhằm đối phó với các thách thức chung về kinh tế. Các rào cản, trở ngại trong hợp tác kinh tế được dỡ bỏ để cùng chia sẻ tài nguyên và công nghệ, hướng đến sự thịnh vượng chung. Thế giới quay trở lại quỹ đạo tự do hóa, toàn cầu hóa nhưng đi kèm với các quy định quản trị toàn cầu chặt chẽ hơn.
Khả năng xảy ra kịch bản này là thấp (khoảng 10%). Mặc dù đây là viễn cảnh lý tưởng nhất, nhưng nó đòi hỏi một sự đảo ngược trong xu hướng lòng tin chiến lược giữa các cường quốc hiện nay. Điều này là khó khả thi trong bối cảnh phạm vi và mức độ cạnh tranh chiến lược giữa các cường quốc được dự báo sẽ ngày càng quyết liệt hơn trong giai đoạn tới.
Kịch bản 3: Phân mảnh kinh tế có chọn lọc và cạnh tranh có quản lý
Đây là kịch bản khả thi nhất cho tương lai tới 2050. Theo đó, Mỹ và Trung Quốc – hai cường quốc kinh tế chủ chốt vẫn duy trì cạnh tranh chiến lược khốc liệt nhưng bị giới hạn bởi một khuôn khổ “cạnh tranh có quản lý”, không dẫn đến tách rời hoàn toàn. Quá trình phân mảnh chỉ diễn ra cục bộ trong các lĩnh vực cốt lõi, có ý nghĩa chiến lược như công nghệ bán dẫn tiên tiến, lưỡng dụng, khoáng sản, nguyên liệu quan trọng, theo mô hình “sân nhỏ, rào cao”. Tuy nhiên, trong các lĩnh vực thương mại hàng hóa phổ thông, nông nghiệp, dịch vụ phi công nghệ cao, chuỗi cung ứng toàn cầu vẫn được duy trì nhằm đảm bảo sự ổn định kinh tế vĩ mô.
Khả năng xảy ra của kịch bản này là rất cao (khoảng 70%). Lý do là nó phản ánh đúng bản chất thực dụng của quan hệ quốc tế hiện đại: các cường quốc vừa muốn đảm bảo an ninh, vừa không muốn mất đi lợi ích từ thị trường toàn cầu. Việc “vũ khí hóa sự phụ thuộc lẫn nhau” sẽ được sử dụng như một công cụ răn đe hơn là phá hủy.
Hàm ý với Việt Nam
Với khả năng bức tranh kinh tế thế giới đến 2050 sẽ đi theo chiều hướng phân mảnh có chọn lọc và cạnh tranh có quản lý, là một nền kinh tế có độ mở thuộc hàng cao nhất thế giới, Việt Nam cần chuyển hóa những áp lực ngoại sinh thành động lực bức thiết để tiến hành tái cơ cấu nền kinh tế toàn diện. Điều này đòi hỏi một chiến lược quốc gia đồng bộ: vừa kiên định đường lối ngoại giao kinh tế đa phương hóa, đa dạng hóa để linh hoạt lách qua các khe cửa hẹp của sự phân mảnh kinh tế; vừa phải quyết liệt tăng tốc lộ trình chuyển đổi xanh và số hóa. Quan trọng hơn cả, việc khẩn trương xây dựng một nền kinh tế tự cường, gắn liền với năng lực tự chủ công nghệ và nguồn nhân lực chất lượng cao là vô cùng quan trọng. Chỉ khi củng cố vững chắc được nội lực và kiến tạo được những lợi thế cạnh tranh riêng có, Việt Nam mới có thể khẳng định vị thế là một mắt xích quan trọng trong bản đồ kinh tế thế giới đến năm 2050./.
[1] Henry Farrell, Abraham L. Newman (2019), “Weaponized Interdependence: How Global Economic Networks Shape State Coercion”, International Security (2019) 44 (1): 42–79
[2] Henry Farrell and Abraham Newman (2025), “The Weaponized World Economy: Surviving the New Age of Economic Coercion”, Foreign Affairs, https://www.foreignaffairs.com/united-states/weaponized-world-economy-farrell-newman
