![]()
Tư duy sáng tạo - phẩm chất cốt lõi của nhân lực Việt Nam trong kỷ nguyên mới
Việt Nam đang bước vào kỷ nguyên phát triển mới với sự chi phối của khoa học công nghệ, chuyển đổi số trong các lĩnh vực đời sống. Tư duy sáng tạo, năng lực phản biện và giải quyết vấn đề phức tạp đang trở thành tài sản quý nhất của người lao động nước ta hiện nay.
Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị coi khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số là đột phá quan trọng hàng đầu1. Nghị quyết số 71-NQ/TW ngày 22/8/2025 nhấn mạnh yêu cầu xây dựng thế hệ con người Việt Nam mới đủ bản lĩnh, trí tuệ, năng lực2. Đại hội XIV của Đảng xác định nguồn nhân lực chất lượng cao là một trong ba đột phá chiến lược3.
Trong khi đó, chất lượng nguồn nhân lực vẫn là “điểm nghẽn”. Năm 2025, tỷ lệ lao động qua đào tạo có bằng cấp, chứng chỉ mới đạt 29,2%4; Việt Nam xếp thứ 44/139 nền kinh tế trong Chỉ số Đổi mới sáng tạo toàn cầu 20255. Muốn thành nước phát triển, thu nhập cao vào năm 2045, năng lực sáng tạo của người Việt phải có bước tiến vượt bậc - bắt đầu từ gia đình.
Gia đình là môi trường tốt để hình thành, phát triển tư duy sáng tạo
C. Mác khẳng định con người là sản phẩm của hoàn cảnh và giáo dục, song “bản thân nhà giáo dục cũng cần phải được giáo dục”6. Với tư cách là tổ ấm, môi trường giáo dục đầu tiên, gia đình có những lợi thế rất lớn trong sự hình thành, phát triển tư duy sáng tạo:
Một là, gia đình tạo nền tảng tâm lý an toàn. Sáng tạo luôn gắn với thử nghiệm và rủi ro thất bại. Trẻ chỉ dám “nghĩ, hỏi và làm khác” khi cảm nhận được tình yêu thương và không bị chê bai, trừng phạt vì sai lầm. Thực tế chứng minh, kiểm soát chặt chẽ và áp lực thưởng - phạt làm cạn động cơ nội sinh - nguồn năng lượng quan trọng nhất của sáng tạo7.
Hai là, khơi dậy tính tò mò, ham học hỏi, làm giàu trải nghiệm. Trí tưởng tượng được dựng lên từ chất liệu kinh nghiệm mà đứa trẻ tích lũy8. Sáng tạo là kết quả của tích lũy tri thức bền bỉ. Truyền thống hiếu học của gia đình Việt Nam, người lớn ham học hỏi, trẻ thường xuyên được tham gia các hoạt động như đọc sách, kể chuyện, trò chơi, tham quan, trải nghiệm thiên nhiên, lao động tự phục vụ là cách làm giàu “kho chất liệu” ấy.
Ba là, rèn tư duy độc lập, phản biện. Muốn tạo ra cái mới, trước hết phải biết xem xét cái cũ có phê phán. Khi cha mẹ trao quyền tự quyết phù hợp lứa tuổi, khuyến khích con lý giải quan điểm và cùng bàn bạc các tình huống đời sống, trẻ được rèn khả năng lập luận, biết chịu trách nhiệm9.
Bốn là, định hướng giá trị cho sáng tạo. Công nghệ có thể phục vụ con người nhưng cũng có thể bị lạm dụng. Giáo dục con trung thực trong học tập, tôn trọng quyền tác giả, dùng trí tuệ nhân tạo có trách nhiệm là yêu cầu cấp thiết, phù hợp mục tiêu phát triển con người toàn diện.
Những hạn chế của gia đình Việt Nam trong phát triển tư duy sáng tạo cho thế hệ trẻ hiện nay
Nhận thức và đầu tư của gia đình Việt Nam hiện nay đối với giáo dục trẻ ngày càng cao; quan hệ gia đình dân chủ hơn có ý nghĩa rất lớn trong hình thành, phát triển năng lực tư sáng tạo cho thế hệ trẻ. Tuy nhiên, vẫn còn những hạn chế:
Tâm lý nặng thành tích. Không ít cha mẹ đồng nhất thành công của con với điểm số, trường chuyên; trẻ bị cuốn vào học thêm, luyện thi, ít thời gian vui chơi và tự khám phá. Nghị quyết số 71-NQ/TW đã thẳng thắn chỉ ra bệnh hình thức trong giáo dục còn phổ biến2.
Phương pháp giáo dục áp đặt. Tàn dư gia trưởng khiến việc trẻ nêu ý kiến khác biệt dễ bị xem là “cãi bướng”. Nhiều cha mẹ quyết định thay con từ chọn môn học đến chọn nghề, khiến một bộ phận thanh thiếu niên thiếu chủ kiến, không dám sáng tạo vì sợ sai.
Tương tác trực tiếp suy giảm. Áp lực mưu sinh khiến nhiều cha mẹ thiếu thời gian đồng hành cùng con cái. Thiết bị số “chen vào” gia đình: độ tuổi trung bình trẻ em Việt Nam sở hữu điện thoại là 9 tuổi, sớm hơn 4 năm so với thế giới11.
Năng lực cha mẹ chưa theo kịp thời đại, sự phối hợp còn lỏng lẻo. Nhiều phụ huynh chưa được trang bị kiến thức tâm lý học phát triển và kỹ năng số; tình trạng “khoán trắng” cho nhà trường vẫn tồn tại; thư viện, không gian sáng tạo cộng đồng còn thiếu.
Một số giải pháp để gia đình tiếp tục thúc đẩy phát triển tư duy sáng tạo cho trẻ
Cần quán triệt quan điểm: đầu tư cho giáo dục gia đình là đầu tư cho nguồn nhân lực sớm và lâu dài; sáng tạo chỉ nảy nở trong môi trường tự do có định hướng - khuyến khích nhưng không buông lỏng, kỷ cương nhưng không áp đặt.
Một là, đổi mới nhận thức về mục tiêu giáo dục. Thước đo thành công của con không chỉ là điểm số mà là năng lực tư duy độc lập, sáng tạo, tự học và nhân cách. Cần lồng ghép nội dung này vào chương trình thực hiện Chiến lược phát triển gia đình Việt Nam đến năm 203012 và đổi mới thi cử theo hướng coi trọng năng lực.
Hai là, xây dựng môi trường gia đình dân chủ, yêu thương. Cha mẹ chuyển từ “người ra lệnh” sang “người đồng hành”: lắng nghe, cùng con tìm câu trả lời, coi sai lầm là một phần của học hỏi, đánh giá cao nỗ lực hơn kết quả.
Ba là, đa dạng hóa trải nghiệm, tăng “thời gian chất lượng”. Đọc sách và cùng thảo luận, làm thí nghiệm khoa học đơn giản, trồng cây, nấu ăn, tham quan bảo tàng, giao việc nhà phù hợp lứa tuổi. Chính quyền cần đầu tư thư viện, không gian sáng tạo công cộng.
Bốn là, nâng cao năng lực số của cha mẹ. Không tách con khỏi công nghệ mà giúp con làm chủ nó; xây dựng quy tắc sử dụng thiết bị theo lứa tuổi; hướng con từ “người tiêu thụ nội dung” thành “người sáng tạo nội dung”, dùng trí tuệ nhân tạo để hỗ trợ chứ không làm thay việc học.
Năm là, gắn kết gia đình - nhà trường - xã hội. Nhà trường tổ chức chuyên đề hướng dẫn cha mẹ, thiết kế dự án học tập để cha mẹ cùng làm với con. Hội Liên hiệp Phụ nữ, Đoàn Thanh niên, Hội Khuyến học và doanh nghiệp cùng xây dựng sân chơi, cuộc thi sáng tạo.
Sáu là, hoàn thiện chính sách hỗ trợ. Xây dựng bộ tài liệu hướng dẫn giáo dục gia đình theo lứa tuổi, gắn với phát triển tư duy sáng tạo và năng lực số; có chính sách đặc thù cho gia đình vùng khó khăn, dân tộc thiểu số; bảo đảm cân bằng công việc - gia đình.
Gia đình là “vườn ươm” đầu tiên của trí tuệ và sáng tạo. Mỗi câu hỏi “tại sao” được lắng nghe, mỗi lần trẻ được phép thử và sai đều là những viên gạch lặng lẽ dựng nên năng lực sáng tạo của cả một thế hệ - nền tảng để đất nước vững bước trong kỷ nguyên vươn mình.
Tài liệu tham khảo
1. Bộ Chính trị, Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia, Hà Nội, 2024.
2. Bộ Chính trị, Nghị quyết số 71-NQ/TW ngày 22/8/2025 về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo, Hà Nội, 2025.
3. Đảng Cộng sản Việt Nam, Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng, Hà Nội, 2026.
4. Cục Thống kê, Thông cáo báo chí về tình hình dân số, lao động, việc làm quý IV và năm 2025, Bộ Tài chính, Hà Nội, 2026.
5. WIPO, Global Innovation Index 2025: Innovation at a Crossroads, World Intellectual Property Organization, Geneva, 2025.
6. C. Mác và Ph. Ăngghen, Toàn tập, tập 3, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, tr.10.
7. Amabile, T. M., Creativity in Context, Westview Press, Boulder, 1996, tr.115-119.
8. Vygotsky, L. S., Imagination and Creativity in Childhood, Journal of Russian and East European Psychology, tập 42, số 1, 2004, tr.7-97.
9. Vincent-Lancrin, S. và cộng sự, Fostering Students’ Creativity and Critical Thinking: What It Means in School, OECD Publishing, Paris, 2019, tr.25-32.
10. UNDP, Human Development Report 2025: A Matter of Choice - People and Possibilities in the Age of AI, United Nations Development Programme, New York, 2025.
11. Báo VnExpress, Trẻ em Việt được dùng điện thoại sớm 4 năm so với thế giới, ngày 14/3/2023, https://vnexpress.net/tre-em-viet-duoc-dung-dien-thoai-som-4-nam-so-voi-the-gioi-4580136.html
12. Thủ tướng Chính phủ, Quyết định số 2238/QĐ-TTg ngày 30/12/2021 phê duyệt Chiến lược phát triển gia đình Việt Nam đến năm 2030, Hà Nội, 2021.
