Làng gốm Quảng Đức là một trong những làng nghề truyền thống có lịch sử lâu đời ở khu vực duyên hải Nam Trung Bộ. Hình thành từ khoảng thế kỷ XVII, gốm Quảng Đức không chỉ phản ánh trình độ kỹ nghệ thủ công đặc thù, mà còn kết tinh tri thức bản địa và giao thoa văn hóa vùng miền. Trước nguy cơ mai một, việc nhận diện giá trị và đề xuất hướng phát triển bền vững cho làng nghề này trở thành yêu cầu cấp thiết.

Hiện vật gốm Quảng Đức dòng đất nung với kỹ thuật nung của người Chăm. Ảnh: thanhnien.vn
Nằm giữa vịnh Xuân Đài và đầm Ô Loan, làng gốm Quảng Đức (xã An Thạch, huyện Tuy An, tỉnh Phú Yên trước đây, nay là xã Tuy An Đông tỉnh Đắk Lắk) hình thành từ khoảng thế kỷ XVII (1). Làng Quảng Đức nằm ở vị thế thuận lợi về giao thông. Xưa kia, đường thiên lý sau khi vượt sông Cái ở bến đò Cây Dừa đã đi qua làng Quảng Đức rồi tiếp tục xuôi về Nam. Còn nếu đi đường thủy, từ Quảng Đức xuôi theo dòng sông Cái đi về phía hạ lưu là ra đến cửa Tiên Châu và vịnh Xuân Đài, đều là những thương cảng cổ. Sự thuận lợi về mặt giao thông đã góp phần đưa các sản phẩm gốm Quảng Đức giao thương đến nhiều vùng miền khác nhau, thúc đẩy nghề làm gốm ở Quảng Đức phát triển. Thời kỳ thịnh vượng, gốm Quảng Đức không chỉ cung cấp sản phẩm trong tỉnh mà còn có mặt ở khu vực miền Trung, Tây Nguyên và cả Nam Bộ. Trải qua một thời gian dài phát triển rực rỡ, làng gốm Quảng Đức hiện chỉ còn vài hộ giữ nghề.
Sức hấp dẫn của gốm Quảng Đức nằm ở kết tinh sự độc đáo trong nguyên liệu, kỹ thuật nung và hình thức sản phẩm khi hoàn chỉnh. Nguyên liệu của gốm Quảng Đức bắt nguồn từ nguồn đất sét đặc thù tại vùng An Định và An Thạch. Đất sét đem ủ, pha chế, sàng, lọc… khá lâu mới đạt chuẩn để làm nên sản phẩm gốm Quảng Đức.
Gốm được chế tạo bằng nhiều cách như dùng bàn xoay, đắp con chạch, làm khuôn… Lò nung gốm Quảng Đức là loại lò bầu có hai ống khói dùng để nung cả hai loại gốm có men và không men. Khi nung gốm không tráng men, việc sắp xếp sản phẩm được chú ý, tạo sự hợp lý và tận dụng diện tích, sản phẩm lớn ở dưới, nhỏ ở trên, sản phẩm nhỏ nằm trong sản phẩm lớn. Khi nung gốm có men phải dùng bao nung và thời gian kéo dài 3 ngày 3 đêm, quá trình nung chỉ dùng củi cây mằng lăng, củi chành rành để tăng nhiệt độ lò, qua đó tạo ra các sắc độ men khác nhau.
Gốm Quảng Đức - Dấu ấn độc bản từ đất, lửa và sò huyết. Ảnh: vtv.vn
Sản phẩm gốm đa dạng kiểu dáng, như: chén, dĩa, bát, nồi, nậm, bình vôi, hũ, vò, chóe, ổ bịp, lục bình… được chế tác bằng nhiều kỹ thuật khác nhau. Đề tài trang trí trên gốm phong phú như: long, lân, quy, phụng; ngư, tiều, canh, mục; hoa sen, hoa mai; tiên ông, tùng lộc, ngựa, chim công, dơi… Nhiều loại hoa văn và hình tượng trang trí được làm bằng khuôn, sau đó đắp nổi lên sản phẩm, tạo thành các mảng hoa văn với nhiều mô típ sống động, tinh tế như hình sóng nước, dãy hoa văn vòng tròn, hoa mai, văn vỏ sò, hoa văn rồng, lân, hạc, tùng… Khuôn in hoa văn gốm làm từ đất nung, có dạng hình tròn, hình chữ nhật, hình bầu dục…
Nét đặc trưng của gốm cổ Quảng Đức là dấu vết vỏ sò bám dính trên sản phẩm tạo nên lớp men sò huyết độc bản, sự khác biệt với các dòng gốm khác. Vỏ sò được lấy từ đầm Ô Loan để sử dụng trong quá trình nung như một loại chất đệm – kỹ thuật hiếm thấy ở các dòng gốm khác. Trong quá trình xếp sản phẩm vào lò nung, người thợ lót vỏ sò giữa các sản phẩm để tránh chúng dính vào nhau khi nhiệt độ cao làm men chảy. Vỏ sò có khả năng chịu nhiệt tốt, tạo lớp đệm cách nhiệt tự nhiên, giúp phân bố đều nhiệt lượng trong lò. Khi nung, vỏ sò tạo nên hiệu ứng men tự nhiên, loang khói và hằn dấu lên bề mặt sản phẩm – trở thành một “dấu ấn nhận diện” riêng của gốm Quảng Đức.
Hiện nay, gốm Quảng Đức đang đứng trước nguy cơ “biến mất” khỏi bản đồ làng nghề đương đại. Sự đứt gãy này không chỉ nằm ở khía cạnh vật chất mà còn ở tầng sâu tri thức: như sự mai một về nhân lực và kỹ nghệ hay áp lực kinh tế và thị trường; sự thu hẹp không gian sinh tồn của gốm truyền thống; các sản phẩm truyền thống mất dần chỗ đứng trong đời sống sinh hoạt; khoảng trống chính sách như thiếu cơ chế hỗ trợ đặc thù và các chương trình can thiệp khẩn cấp từ phía chính quyền… Để khắc phục những trở lực trong công tác bảo tồn di sản, để nghề gốm Quảng Đức thực sự trở thành một nguồn lực văn hóa cho phát triển bền vững, cần nhanh chóng có những giải pháp thiết thực.

Một bình họa tiết vân vỏ sò độc bản. Ảnh: thanhnien.vn
Trước hết là việc hoàn thiện chính sách quản lý di sản địa phương. Cần đưa gốm Quảng Đức quy hoạch phát triển văn hóa và du lịch của tỉnh như một di sản ưu tiên, có lộ trình bảo tồn cụ thể, gắn với các chương trình phát triển kinh tế – xã hội và du lịch bền vững giai đoạn trung và dài hạn. Bảo tồn gốm Quảng Đức gắn với không gian văn hóa – lịch sử tổng thể, bao gồm lưu vực sông Cái, đầm Ô Loan, các thương cảng cổ, thành cổ Hội Phú – An Thổ và hệ thống làng nghề truyền thống liên quan. Cách tiếp cận không gian này cho phép nhìn nhận nghề gốm không chỉ như một điểm di sản đơn lẻ, mà như một mắt xích trong mạng lưới kinh tế – văn hóa cổ, từ đó tạo cơ sở khoa học cho việc xây dựng các tuyến di sản, tuyến du lịch văn hóa – lịch sử.
Một trong những giải pháp đồng thời chính là phát huy vai trò của cộng đồng trong việc phục hồi tri thức nghề, bao gồm tiến hành khảo cứu, sưu tầm và tư liệu hóa có hệ thống các tri thức nghề còn lưu giữ trong ký ức của các nghệ nhân cao tuổi và cư dân địa phương, từ kỹ thuật chọn đất, phối liệu, tạo hình, nung lò đến hệ thống hoa văn, biểu tượng và kinh nghiệm nghề truyền khẩu. Song song với đó là ưu tiên bảo tồn nguyên trạng các dấu tích gốc của làng gốm như lò nung, bãi nguyên liệu, phế tích sản xuất, bến thuyền, địa danh cổ… làm nền tảng để từng bước hình thành mô hình “Bảo tàng sinh thái gốm Quảng Đức”. Đây không chỉ là không gian trưng bày, mà là một thiết chế văn hóa sống, kết hợp nghiên cứu, giáo dục di sản và trải nghiệm thực hành. Trên cơ sở đó, cần triển khai các chương trình phục dựng quy trình kỹ thuật truyền thống, kết hợp đào tạo truyền nghề cho thế hệ trẻ thông qua các lớp học thực hành, không gian trải nghiệm nghề và sự tham gia của nghệ nhân, nhà nghiên cứu, cơ sở đào tạo. Việc truyền nghề không chỉ nhằm khôi phục kỹ năng thủ công, mà còn tái tạo ý thức văn hóa và niềm tự hào di sản trong cộng đồng.
Bên cạnh đó, không thể thiếu việc định vị di sản trong nền kinh tế sáng tạo. Đó là khi địa phương tái tạo giá trị sử dụng và giá trị biểu tượng của gốm Quảng Đức trong bối cảnh xã hội hiện đại. Do đó khuyến khích các mô hình sáng tạo trên nền tảng kỹ thuật và thẩm mỹ truyền thống, như thiết kế mỹ thuật ứng dụng, đồ trang trí, quà lưu niệm, sản phẩm gốm nghệ thuật, nhưng phải có sự định hướng và kiểm soát để tránh làm mất bản sắc.

Những bình vôi gốm Quảng Đức men sò huyết. Ảnh: thanhnien.vn
Việc phát triển thị trường cần gắn chặt với du lịch văn hóa chiều sâu, trong đó du khách không chỉ là người tiêu dùng sản phẩm, mà còn là người tham gia trải nghiệm, tìm hiểu câu chuyện lịch sử – văn hóa của gốm Quảng Đức. Các hoạt động như trình diễn nghề, trải nghiệm làm gốm, tham quan không gian di sản, kết nối tuyến sông – biển sẽ góp phần gia tăng giá trị văn hóa và kinh tế của di sản. Khi được đặt trong một hệ sinh thái sáng tạo văn hóa, gốm Quảng Đức không chỉ được “bảo tồn”, mà còn có cơ hội tái sinh như một nguồn lực mềm, đóng góp lâu dài cho phát triển văn hóa và kinh tế địa phương.
Gốm Quảng Đức là sự kết hợp hài hòa giữa tri thức địa phương, nguồn tài nguyên tại chỗ và sự giao thoa văn hóa vùng miền. Di sản này không chỉ mang giá trị lịch sử mà còn giữ vai trò quan trọng trong việc bảo tồn sinh kế và bản sắc cộng đồng. Nếu được đầu tư đúng mức, làng nghề sẽ trở thành nguồn tài nguyên du lịch văn hóa bền vững, phục vụ hiệu quả cho công tác giáo dục và nghiên cứu khoa học. Trong bối cảnh phát triển bền vững gắn với bảo tồn di sản đang trở thành xu thế tất yếu, gốm Quảng Đức cần được nhìn nhận không chỉ như một ký ức nghề, mà như một nguồn lực văn hóa có khả năng tái tạo. Việc kết nối hiệu quả giữa bảo tồn di sản, kinh tế sáng tạo và sự tham gia của cộng đồng sẽ là chìa khóa để làng gốm Quảng Đức phục hồi, phát triển và khẳng định vị thế trong đời sống văn hóa đương đại.
Chú thích:
1.https://thanhnien.vn/gom-co-quang-duc-nhan-dien-nhung-hien-vat-phong-theo-185824753.htm, truy cập ngày 01/12/2025
