Hội nghị Geneva năm 1954 đã khẳng định và chứng minh sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng trong việc kết hợp sức mạnh dân tộc và sức mạnh thời đại, nhằm giải quyết vấn đề kết thúc chiến tranh, lập lại hòa bình ở Đông Dương, trong đó có Việt Nam

Phát huy cao độ sức mạnh dân tộc

Thứ nhất, Đảng đề ra đường lối kháng chiến đúng đắn, trong đó có chủ trương ngoại giao mong muốn kết thúc cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp bằng con đường hòa bình

Từ năm 1950, cuộc kháng chiến của nhân dân Việt Nam chống thực dân Pháp xâm lược phát triển mạnh mẽ. Đảng chủ trương cần phải đẩy mạnh kháng chiến toàn diện cả về quân sự, chính trị, kinh tế, văn hóa và ngoại giao để tạo nên sức mạnh tổng hợp của sự nghiệp kháng chiến.

Đại hội lần thứ II Đảng Cộng sản Đông Dương họp từ ngày 11 đến 19/02/1951 đã quyết định đưa Đảng ra hoạt động công khai, thành lập ở mỗi nước Đông Dương một đảng cách mạng riêng; ở Việt Nam là Đảng Lao động Việt Nam.

Đại hội làm rõ những vấn đề lý luận, thực tiễn của cách mạng dân tộc, dân chủ, nhân dân ở Việt Nam, đề ra Cương lĩnh hoàn thành cách mạng giải phóng dân tộc, tiến lên chủ nghĩa xã hội.

Về ngoại giao, sau những nỗ lực vận động ngoại giao từ khi nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời (9/1945), Việt Nam đã đạt được những thành tựu quan trọng. Ngày 18/01/1950, Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa công nhận và đặt quan hệ ngoại giao với Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. ngày 30/01/1950, Liên Xô công nhận và đặt quan hệ ngoại giao. Tiếp đó là các nước dân chủ nhân dân ở Đông Âu công nhận và đặt quan hệ ngoại giao với nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.

Từ tháng 1 đến tháng 3/1950, Chủ tịch Hồ Chí Minh thực hiện chuyến thăm tại Trung Quốc và Liên Xô.

Ngày 26/01/1950, Chủ tịch Hồ Chí Minh hội đàm với các nhà lãnh đạo Trung Quốc: Lưu Thiếu Kỳ, Chu Đức, Chu Ân Lai.

Ngày 03/02/1950, Chủ tịch Hồ Chí Minh hội đàm với nhà lãnh đạo Liên Xô Joseph Stalin. Hai bên thỏa thuận chưa công khai quan hệ giữa Đảng Cộng sản Liên Xô và Đảng Cộng sản Đông Dương, nhưng cần chú trọng quan hệ nhà nước, sớm lập Đại sứ quán Việt Nam tại Liên Xô. Đó là thắng lợi to lớn về ngoại giao góp phần thúc đẩy sự phát triển về mọi mặt của sự nghiệp kháng chiến của nhân dân Việt Nam.

Hội nghị Geneva về Đông Dương, tháng 7/1954 (Ảnh tư liệu)

Thứ hai: Phát huy sức mạnh dân tộc với quyết tâm đưa cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp đến thắng lợi, đỉnh cao là Chiến dịch Điện Biên Phủ

Từ khi thực dân Pháp quay trở lại xâm lược Việt Nam, Đảng đã lãnh đạo nhân dân Việt Nam bước vào cuộc kháng chiến trường kỳ và giành được thắng lợi từng bước.

Để giành thắng lợi quyết định trên mặt trận quân sự, Đảng đã lãnh đạo kế hoạch tác chiến Đông Xuân 1953-1954. Ngày 06/12/1953, Bộ Chính trị họp, quyết định mở Chiến dịch Điện Biên Phủ.

Trên cơ sở mọi công tác chuẩn bị đã hoàn thành, chiều ngày 13/3/1954, chiến dịch Điện Biên Phủ chính thức bắt đầu bằng việc quân ta tấn công cụm cứ điểm Him Lam, mở màn chiến dịch.

Từ ngày 13 đến 17/3/1954, quân ta đã anh dũng chiến đấu, tiêu diệt gọn cứ điểm Him Lam và đồi Độc Lập, bức hàng cứ điểm Bản Kéo, phá vỡ cửa ngõ phía Bắc của tập đoàn cứ điểm; diệt và bắt sống trên 2.000 tên địch, phá hủy 25 máy bay, xóa sổ 1 trung đoàn, uy hiếp sân bay Mường Thanh.

Từ ngày 30/3 đến ngày 30/4/1954, quân ta đồng loạt tiến công các cứ điểm phía Đông phân khu trung tâm, thắt chặt vòng vây, chia cắt và liên tục tiến công, kiểm soát sân bay Mường Thanh, hạn chế tiếp viện.

Từ ngày 01/5 đến ngày 07/5/1954, quân ta tiếp tục mở đợt tấn công thứ ba đánh chiếm các cứ điểm phía Đông và mở đợt tổng công kích. 17 giờ 30 phút ngày 07/5/1954, quân ta chiếm sở chỉ huy trung tâm. Tướng De Castries cùng toàn bộ Bộ Tham mưu và binh lính tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ kéo cờ trắng ra hàng. Chiến dịch Điện Biên Phủ kết thúc thắng lợi.

Chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ là chiến thắng vĩ đại của dân tộc Việt Nam, giáng đòn quyết định, tạo bước ngoặt làm thay đổi cục diện chiến tranh trực tiếp đưa đến việc ký kết Hiệp định Giơnevơ chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Đông Dương; là yếu tố quan trọng để Việt Nam được tham dự Hội nghị Giơnevơ cùng vấn đề Đông Dương và Việt Nam được được đưa ra bàn tại Hội nghị quốc tế quan trọng này.

Phát huy sức mạnh thời đại

Thứ nhất, tranh thủ vị thế và vai trò của Liên Xô

Những năm 1950 của thế kỷ XX, Liên Xô củng cố và không ngừng nâng cao vị thế về chính trị và quân sự sau chiến thắng chủ nghĩa phát xít trong chiến tranh thế giới thứ II và chiến tranh vệ quốc vĩ đại. Hoàn thành khôi phục kinh tế sau chiến tranh và thúc đẩy kinh tế phát triển. Năm 1949, Liên Xô sản xuất bom nguyên tử. Từ năm 1953, sau chiến tranh Triều Tiên, Liên Xô đã quan tâm giải quyết vấn đề chiến tranh Việt Nam và Đông Dương. Một mặt, Liên Xô khẳng định vị thế của mình với tư cách là một cường quốc xã hội chủ nghĩa trong việc giải quyết các vấn đề quốc tế, mặt khác chú trọng chủ trương hòa hoãn với Mỹ và Phương Tây.

Vai trò của Liên Xô nổi bật từ sự kiện ngày 28/02/1954, hội nghị ngoại trưởng các nước Hoa Kỳ, Anh, Pháp, Liên Xô kết thúc, nhất trí triệu tập Hội nghị quốc tế bàn về vấn đề Triều Tiên và Đông Dương tại Geneva. Cần nói rõ là, trong hội nghị ngoại trưởng 4 nước này, ngoại trưởng Liên Xô V.Molotov đề nghị tại Hội nghị Geneva bàn về vấn đề Triều Tiên và vấn đề Đông Dương phải có mặt đại biểu Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa. Các nước đồng ý, riêng Mỹ cho rằng vì bàn vấn đề Triều Tiên nên Mỹ không đồng ý có mặt ngoại trưởng Trung Quốc và bảo lưu ý kiến này. Nếu có mặt ngoại trưởng Trung Quốc ở Geneva không có nghĩa là Mỹ công nhận Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa về ngoại giao.

Các thành viên đoàn đại biểu Việt Nam Dân chủ Cộng hòa dự Hội nghị Geneva, năm 1954 (Ảnh tư liệu Bộ Ngoại giao Việt Nam)

Liên Xô đề nghị mời Trung Quốc, Mỹ lại phản đối. Đó là bất đồng mà các nước lớn phải thảo luận, dàn xếp. Cuối cùng đã đi đến thỏa hiệp: Liên Xô đứng ra mời Trung Quốc và Bắc Triều Tiên. Ngày 21/4/1954, Liên Xô gửi công hàm cho Hoa Kỳ, Anh, Pháp đề nghị để Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa được chấp nhận như một trong 5 cường quốc ngang hàng với Liên Xô, Mỹ, Anh, Pháp. Ba nước Phương Tây gửi chung công hàm cho Liên Xô bác bỏ kiến nghị đó tức là Trung Quốc tham gia Hội nghị Geneva nhưng không phải một trong 5 cường quốc. Khi Hội nghị Geneva bàn về vấn đề Đông Dương, thành phần Hội nghị vẫn là 5 nước: Liên Xô, Mỹ, Anh, Pháp, Trung Quốc và các nước tham chiến ở Đông Dương.

Thứ hai: Tranh thủ sự ủng hộ của Liên Xô và Trung Quốc

Sau khi kết thúc chiến tranh Triều Tiên với bản Hiệp định đình chiến 27/7/1953 ở Pan Mun Jon (Bàn Môn Điếm) xác định vĩ tuyến 38 là đường giới tuyến giữa hai miền Triều Tiên, ngày 24/8/1953, Thủ tướng Trung Quốc Chu Ân Lai tuyên bố tại Bắc Kinh: Cuộc đình chiến ở Triều Tiên có thể làm mẫu mực cho việc giải quyết vấn đề khác. Tán đồng quan điểm của Trung Quốc, báo Cờ đỏ (Liên Xô) ngày 03/8/1953 viết: “Đình chiến ở Triều Tiên phải thúc đẩy đi đến đình chiến ở Đông Dương”.

Liên Xô và Trung Quốc đã thông báo cho lãnh đạo Việt Nam về quan điểm đi tới Hội nghị Geneva về Đông Dương. Cả Liên Xô và Trung Quốc đều chủ trương giải quyết các cuộc tranh chấp trên thế giới bằng thương lượng hòa bình. Để thống nhất quan điểm và chủ trương tham gia Hội nghị Geneva, đầu tháng 3/1954 đã diễn ra cuộc họp 3 đoàn Việt Nam - Trung Quốc - Liên Xô.

Cuối tháng 3/1954, Chủ tịch Hồ Chí Minh cùng Phó Thủ tướng Phạm Văn Đồng đến Bắc Kinh làm việc với các nhà lãnh đạo Trung Quốc; sau đó, cùng Thủ tướng Trung Quốc Chu Ân Lai đi Liên Xô. Ngày 03/4/1954, hội đàm cấp cao gồm Khrushchev (Liên Xô), Chu Ân Lai (Trung Quốc), Hồ Chí Minh, Phạm Văn Đồng (Việt Nam) chuẩn bị cho Hội nghị Geneva.

Hội nghị họp bàn về vấn đề Đông Dương từ ngày 08/5/1954 và kết thúc ngày 21/7/1954 các nước ký tuyên bố cuối cùng. Hội nghị trải qua 75 ngày thảo luận và thương lượng, với 8 phiên họp rộng và 23 phiên họp hẹp cấp trưởng đoàn. Ngoại trưởng, Trưởng đoàn Liên Xô Molotov và Ngoại trưởng, Trưởng đoàn Anh thay nhau chủ trì các phiên họp.

Trong giai đoạn một của Hội nghị, từ ngày 08/5 đến ngày 19/6/1954, Liên Xô có vai trò lớn xác định những vấn đề thảo luận và quyết định. Lập trường của Pháp trong phiên khai mạc (ngày 08/5) được Mỹ ủng hộ là chỉ giải quyết vấn đề quân sự, không đề cập vấn đề chính trị, tách vấn đề Lào, Campuchia khỏi vấn đề Việt Nam. Lập trường của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa trong phiên họp thứ hai (ngày 10/5) được Liên Xô, Trung Quốc ủng hộ là giải quyết đồng thời cả vấn đề quân sự và chính trị, giải quyết đồng thời vấn đề Việt Nam, Lào, Campuchia.

Trưởng đoàn Liên Xô Molotov đề nghị lấy hai phương án của Pháp và Việt Nam Dân chủ Cộng hòa làm cơ sở để thảo luận tại hội nghị. Sau 4 phiên họp rộng, ngày 19/5, Trưởng đoàn Anh Eden yêu cầu họp hẹp. Trưởng đoàn Liên Xô Molotov đề nghị vấn đề quân sự, chính trị và vấn đề ba nước Đông Dương sẽ bàn song song. Anh, Pháp đồng ý và Mỹ cũng chấp nhận.

Molotov, trong diễn văn ngày 08/6 đã sử dụng tài liệu của Việt Nam đả kích mạnh mẽ chính sách hiếu chiến của Bidault (Pháp). Sự lên án mạnh mẽ của Liên Xô đã góp phần rất quan trọng đưa đến việc Quốc hội Pháp đánh đổ nội các của Joseph Laniel-Bidault ngày 12/6. Ngày 19/6/1954, Chính phủ mới ở Pháp lên cầm quyền do Mendes France làm Thủ tướng. Mendes France hứa trước Quốc hội Pháp trong vòng một tháng sẽ giải quyết xong vấn đề lập lại hòa bình ở Đông Dương. Các sự kiện đó đã góp phần phá vỡ bế tắc của hội nghị. Thực tế đã cho thấy, Liên Xô có vai trò rất quan trọng trong giải quyết các vấn đề chính yếu tại Hội nghị. Liên Xô đã tích cực ủng hộ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Mặt khác, cũng thấy rõ hơn ý đồ của Mỹ gây sức ép với Pháp và tìm cách thay thế Pháp ở Đông Dương.

Từ ngày 3 đến ngày 05/7/1954, tại Liễu Châu (Trung Quốc) đã diễn ra cuộc gặp giữa Chủ tịch Hồ Chí Minh với Thủ tướng Trung Quốc Chu Ân Lai bàn các vấn đề phân vùng, thời gian tổng tuyển cử và các vấn đề khác. Ngày 04/7, tại Trung Giã, Sóc Sơn, Hà Nội diễn ra Hội nghị quân sự Việt-Pháp để bàn việc thi hành các điều khoản quân sự thỏa thuận ở Hội nghị Geneva. Vai trò của Trung Quốc ngày càng nổi bật trong các thỏa thuận với Pháp, trao đổi quan điểm với Việt Nam. Liên Xô dựa trên thỏa thuận với Trung Quốc và Việt Nam; từ ngày 03/4/1954 gần như đã phân công cho Trung Quốc xử lý các vấn đề đặt ra.

Giai đoạn thứ ba từ 11/7 đến 21/7/1954, các cuộc đàm phán cấp Trưởng đoàn được nối lại đồng thời diễn ra các cuộc gặp gỡ tay đôi, tay ba hoặc nhiều bên. Các phiên họp thảo luận các vấn đề lớn và thông qua các văn kiện đi tới kết thúc hội nghị. Sáng 21/7/1954, các hiệp định và tuyên bố cuối cùng được ký kết. Để giữ đúng lời hứa kết thúc chiến tranh trong 1 tháng khi lên làm Thủ tướng (20/6), Thủ tướng Pháp Mendes France đề nghị các văn bản ký kết tại Hội nghị Geneva ghi ngày 20/7/1954.

Do sự cố gắng của đại biểu Liên Xô tại Hội nghị Berlin, mà có cuộc đàm phán giữa ta và Pháp ở Hội nghị Geneva. Ở Hội nghị Geneva, do sự đấu tranh của đoàn đại biểu ta và sự giúp đỡ của hai đoàn đại biểu Liên Xô và Trung Quốc, ta đã thu được thắng lợi lớn: Chính phủ Pháp đã thừa nhận độc lập, chủ quyền, thống nhất và lãnh thổ toàn vẹn của nước ta, thừa nhận quân đội Pháp sẽ rút khỏi nước ta”[1].

Thứ ba: Kết hợp chặt chẽ giữa đấu tranh ngoại giao với đấu tranh dư luận, tranh thủ sự ủng hộ của cộng đồng quốc tế

Việt Nam đến Hội nghị Geneva với tư thế chính nghĩa. Nỗ lực phấn đấu vì hòa bình, giành lại độc lập dân tộc, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của chúng ta phù hợp với nguyện vọng chung của nhân loại tiến bộ, kể cả nhân dân tiến bộ Pháp. Tại Hội nghị Geneva, qua các hoạt động tiếp xúc với báo chí, với các hội đàm, chúng ta đã làm cho dư luận hiểu rõ thiện chí của ta, hiểu rõ âm mưu và hành động của các thế lực thù địch ép chúng ta phải chấp nhận giải pháp bất lợi cho mình. Các hoạt động này đã biến tính chính nghĩa của cuộc chiến đấu của nhân dân ta thành sức mạnh, hỗ trợ tích cực cho đấu tranh trên bàn đàm phán. Đấu tranh dư luận, tranh thủ sự ủng hộ quốc tế tại Hội nghị Geneva chính là ví dụ cụ thể của việc kết hợp sức mạnh của dân tộc với sức mạnh của thời đại, nhân sức mạnh của dân tộc ta lên bội phần.

 

[1] Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia – Sự thật, Hà Nội, 2011, t. 9, tr. 1-2.