Kỷ nguyên số không chỉ mở rộng không gian sáng tạo và thụ hưởng văn hóa, mà còn làm thay đổi cách các giá trị được hình thành, lựa chọn và lan tỏa. Đối với Việt Nam, điều cần thiết không phải là chạy theo công nghệ bằng mọi giá, mà là chủ động kiến tạo một hệ sinh thái văn hóa số có bản sắc, có năng lực tự chủ, trong đó con người và lợi ích quốc gia - dân tộc giữ vai trò định hướng.

Kết nối di sản, công nghệ và sáng tạo để kiến tạo hệ sinh thái văn hóa số Việt Nam. Ảnh minh họa.
Đời sống văn hóa trong những chuyển động của không gian số
Công nghệ số, dữ liệu lớn, nền tảng và trí tuệ nhân tạo đang ngày càng thâm nhập vào đời sống văn hóa. Chúng không chỉ hỗ trợ lưu trữ, phổ biến tác phẩm mà còn ngày càng tham gia trực tiếp vào quá trình sáng tạo, phân phối và định hướng sự chú ý của công chúng. UNESCO cho rằng công nghệ số đang làm thay đổi cách con người tiếp cận văn hóa và có thể hỗ trợ bảo vệ di sản. Tuy nhiên, nền tảng và thuật toán cũng đang trở thành những “người gác cổng” mới. Nội dung nào được nhìn thấy, tiếng nói nào có cơ hội lan tỏa không chỉ phụ thuộc vào chất lượng, mà còn chịu tác động từ dữ liệu hành vi và mục tiêu kinh doanh của nền tảng. Trí tuệ nhân tạo tiếp tục làm nảy sinh câu hỏi về tính nguyên gốc, quyền tác giả và trách nhiệm xã hội. Nhóm chuyên gia độc lập do UNESCO triệu tập cảnh báo rằng dữ liệu huấn luyện thiếu cân bằng có thể tái tạo định kiến và gạt các nền văn hóa thiểu số ra bên lề.[1] Vấn đề cốt lõi vì thế là làm chủ công nghệ bằng một hệ giá trị rõ ràng, bảo đảm quyền sáng tạo và thụ hưởng văn hóa của nhân dân, đồng thời giữ vững bản sắc và chủ quyền văn hóa quốc gia.
Cơ hội phát triển và những vấn đề đặt ra
Chuyển đổi số mở ra khả năng đưa các giá trị văn hóa đến gần hơn với công chúng, nhất là người dân ở những địa bàn còn hạn chế về thiết chế. Khi hiện vật, tư liệu, câu chuyện và ký ức cộng đồng được liên kết trong các cơ sở dữ liệu có thể tìm kiếm và tái sử dụng, di sản không chỉ được lưu giữ tốt hơn mà còn có thể trở thành nguồn học liệu và chất liệu sáng tạo. Luật Di sản văn hóa năm 2024 đã đưa số hóa di sản và chuyển đổi số vào nhóm hoạt động được Nhà nước ưu tiên bố trí ngân sách.[2] Môi trường số cũng mở rộng dư địa phát triển công nghiệp văn hóa và nâng cao sức mạnh mềm quốc gia. Việt Nam có chiều sâu lịch sử, lực lượng lao động trẻ và thị trường nội địa giàu tiềm năng. Nếu những lợi thế ấy được kết nối với công nghệ, truyền thông, sở hữu trí tuệ và năng lực kinh doanh quốc tế, văn hóa có thể tạo ra sản phẩm có giá trị gia tăng cao, vừa khẳng định bản sắc, vừa đóng góp cho tăng trưởng. Chiến lược phát triển các ngành công nghiệp văn hóa đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045 đã đặt ra yêu cầu tăng cường ứng dụng công nghệ và nâng cao sức cạnh tranh của sản phẩm văn hóa Việt Nam.[3] Tinh thần ấy thống nhất với Nghị quyết số 80-NQ/TW, trong đó phát triển văn hóa, con người được xác định là nền tảng, nguồn lực nội sinh quan trọng và động lực cho sự phát triển nhanh, bền vững của đất nước.[4]
Dẫu vậy, tiềm năng không tự động chuyển hóa thành năng lực phát triển. Khi hạ tầng phân phối nội dung và dữ liệu công chúng phần lớn nằm trong tay các nền tảng xuyên biên giới, người sáng tạo trong nước có thể tiếp cận thị trường rộng hơn, nhưng cũng dễ phụ thuộc vào thuật toán và cơ chế chia sẻ doanh thu do chủ thể bên ngoài quyết định. Tin giả, bạo lực ngôn từ và những nội dung gây sốc thường lan nhanh hơn các sản phẩm đòi hỏi thời gian suy ngẫm; việc tiếp nhận nội dung ngắn, nhanh và liên tục có thể làm suy giảm khả năng đọc sâu và đối thoại của công chúng. Quyền tác giả và sinh kế của người sáng tạo cũng đứng trước sức ép khi tác phẩm bị sao chép hoặc dùng làm dữ liệu huấn luyện trí tuệ nhân tạo mà thiếu sự đồng thuận và cơ chế chia sẻ lợi ích. WIPO xác định trí tuệ nhân tạo đang đặt ra nhiều vấn đề mới đối với sở hữu trí tuệ, từ dữ liệu đầu vào đến khả năng bảo hộ đối với sản phẩm do AI tạo ra.[5] Bảo vệ bản sắc văn hóa vì thế không thể dựa vào tâm thế khép kín, mà phải bắt đầu từ năng lực tạo ra nội dung Việt Nam có chất lượng và sức hấp dẫn.
Những nền tảng để kiến tạo hệ sinh thái văn hóa số
Muốn tạo ra chuyển biến, cần thay đổi cách nhìn về chuyển đổi số trong văn hóa. Số hóa một bộ sưu tập, xây dựng một trang thông tin hay đưa chương trình nghệ thuật lên mạng mới chỉ là những việc cần làm, chưa phải chuyển đổi số theo nghĩa đầy đủ. Chuyển đổi chỉ thực sự diễn ra khi dữ liệu làm thay đổi cách ra quyết định, cách các thiết chế phối hợp và cách người dân tiếp cận dịch vụ. Thay cho những dự án rời rạc, cần hình thành một kiến trúc văn hóa số thống nhất, trong đó con người, dữ liệu, quy trình, thể chế và hạ tầng được đầu tư đồng bộ. Dữ liệu văn hóa phải được coi là tài nguyên chiến lược của quốc gia, được chuẩn hóa về định danh, quyền truy cập và bảo quản lâu dài; các cơ sở dữ liệu văn hóa phải có khả năng kết nối. Việt Nam cũng cần từng bước phát triển những nền tảng có năng lực phân phối nội dung, để dữ liệu, ký ức và các giá trị văn hóa của dân tộc không hoàn toàn phụ thuộc vào các nền tảng bên ngoài. Tinh thần đột phá về thể chế, nhân lực, hạ tầng và dữ liệu mà Nghị quyết số 57-NQ/TW đặt ra cần được cụ thể hóa thành những chương trình có trọng tâm trong lĩnh vực văn hóa.[6]
Đổi mới tư duy phải đi liền với đổi mới cách tổ chức thị trường và quản trị môi trường số. Công nghiệp văn hóa khó phát triển bền vững nếu chính sách chỉ chú ý đến sự kiện quảng bá hoặc sản phẩm cuối cùng, trong khi những khâu quyết định giá trị như nghiên cứu, ươm tạo ý tưởng, bảo hộ quyền và tiếp thị quốc tế còn yếu. Một câu chuyện dân gian, một nhân vật lịch sử hay một họa tiết truyền thống chỉ có thể trở thành tài sản văn hóa lâu dài khi được nghiên cứu cẩn trọng và chuyển hóa bằng ngôn ngữ sáng tạo đương đại. Quản trị nhà nước cũng cần chuyển từ phản ứng theo vụ việc sang chủ động dự báo và quản trị rủi ro. Trách nhiệm của nền tảng phải rõ hơn về minh bạch trong đề xuất nội dung, bảo vệ trẻ em, xử lý thông tin vi phạm và tôn trọng quyền của người sáng tạo. Với trí tuệ nhân tạo, cần sớm có hướng dẫn về ghi nhãn nội dung, bảo vệ hình ảnh và giọng nói cá nhân, sử dụng dữ liệu huấn luyện và xử lý sai lệch văn hóa. Nghị định số 147/2024/NĐ-CP quy định khuôn khổ quản lý, cung cấp, sử dụng dịch vụ internet và thông tin trên mạng, nhưng hiệu quả còn phụ thuộc vào năng lực phối hợp liên ngành và khả năng thực thi thích ứng với tốc độ thay đổi của công nghệ.
Kiến tạo hệ sinh thái văn hóa số ở Việt Nam, xét đến cùng, không phải là câu chuyện đưa thật nhiều hoạt động văn hóa lên môi trường mạng, mà là quá trình tổ chức lại các nguồn lực văn hóa trong điều kiện mới. Thành công của quá trình ấy phụ thuộc vào việc chúng ta có giữ được con người ở vị trí trung tâm, có chuyển hóa kho tàng truyền thống thành năng lực sáng tạo đương đại, có làm chủ dữ liệu và từng bước giảm sự lệ thuộc vào các nền tảng bên ngoài hay không. Khi công nghệ được dẫn dắt bởi hệ giá trị văn hóa Việt Nam, được đặt trong khuôn khổ thể chế phù hợp và phục vụ quyền sáng tạo, quyền thụ hưởng văn hóa của nhân dân, văn hóa số mới có thể trở thành không gian bồi đắp bản sắc, củng cố sức mạnh mềm và khơi dậy nguồn lực nội sinh cho phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc.
1] UNESCO, Artificial Intelligence and Culture: Report of the Independent Expert Group on Artificial Intelligence and Culture, 2025, tr. 8–9, https://www.unesco.org/en/mondiacult/publications, truy cập ngày 23/6/2026.
[2] Quốc hội, Luật Di sản văn hóa số 45/2024/QH15 ngày 23/11/2024, Điều 7, khoản 3, điểm đ.
[3] Thủ tướng Chính phủ, Quyết định số 2486/QĐ-TTg ngày 14/11/2025 phê duyệt Chiến lược phát triển các ngành công nghiệp văn hóa Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045, phần III, mục 2 và mục 4, tr. 5–6.
[4] Bộ Chính trị, Nghị quyết số 80-NQ/TW ngày 07/01/2026 về phát triển văn hóa Việt Nam, phần I, quan điểm 1, tr. 2.
[5] World Intellectual Property Organization (WIPO), “Artificial Intelligence and Intellectual Property”, truy cập ngày 23/6/2026.
[6] Bộ Chính trị, Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia, phần I, quan điểm 3, tr. 2, truy cập ngày 23/6/2026.
