Trong suốt 21 năm trường kỳ đấu tranh giải phóng miền Nam (1954 - 1975), quân và dân ta đã sáng tạo nhiều hình thức đấu tranh phong phú trên mọi mặt trận, trong đó có một mặt trận đấu tranh đặc biệt của các chiến sĩ cách mạng trong nhà tù, trại giam của địch. Bản lĩnh chính trị vững vàng, kiên định về lý tưởng, sự sáng tạo của các tổ chức đảng trong lãnh đạo đấu tranh trong các nhà tù, trại giam của địch ở miền Nam đã làm nên một mặt trận đấu tranh mới, đóng góp quan trọng vào thắng lợi của sự nghiệp thống nhất đất nước
Chính sách bắt bớ, tù đày của chính quyền Sài Gòn
Sau khi Hiệp định Geneva được ký kết, chính quyền Sài Gòn trắng trợn vi phạm Hiệp định, thay vào thực hiện Tổng tuyển cử, chúng đẩy mạnh càn quét, chiếm đóng, tăng cường bắt bớ, trả thù những người kháng chiến nhằm thực hiện âm mưu chia cắt lâu dài đất nước ta.
Từ giữa năm 1959, chính quyền Ngô Đình Diệm chính thức đặt Đảng Cộng sản ra ngoài vòng pháp luật, liên tục mở những chiến dịch tố cộng, diệt cộng, đàn áp, tiêu diệt những người cộng sản. Với phương châm “ bắt nhầm còn hơn bỏ sót”, chúng bắt giữ ồ ạt tất cả những người được xem là cộng sản hoặc có liên quan đến hoạt động cộng sản, chống “chính quyền quốc gia”.
Từ năm 1954 đến năm 1960 trên toàn miền Nam có 48.250 người bị bắt giam vì tội danh "cộng sản".
Khi Mỹ tiến hành các chiến lược Chiến tranh đặc biệt, Chiến tranh Cục bộ, Việt Nam hóa chiến tranh, đặc biệt là sau sự kiện Mậu Thân 1968, số lượng tù binh trong các trại giam tù binh tăng nhanh.
Theo văn bản số 3342/QP đề ngày 19/6/1972 của Bộ Quốc phòng gửi cho phủ Tổng thống chính quyền Sài Gòn, tính đến ngày 30/3/1972, tổng số tù binh tại các trại giam ở miền Nam Việt Nam là 35.871 người, giam giữ tại các trại Phú Quốc (26.411 người) và một số trại giam khác (Đà Nẵng: 1.504 người; Pleiku: 1.137 người; Cần Thơ: 2.748 người; Biên Hoà: 2.829 người; Quy Nhơn: 1.241 người).
Tại thời điểm tháng 7/1972, nhà tù Côn Đảo có 9.667 tù nhân, trong đó: Tù án: 4.237 (4 nữ); Câu lưu: 2.924 (313 nữ); Nghi can: 1.226.
Hiệp định Paris được ký kết, Mỹ rút quân đội về nước, công việc nội bộ do hai bên Việt Nam tự giải quyết, và cam kết thực hiện trao trả tù binh. Nhưng chính quyền Việt Nam Cộng hòa vẫn tiếp tục trì hoãn, thi hành không đúng với tinh thần Hiệp định.

Nhà lao Tân Hiệp, Biên Hòa (Ảnh tư liệu)
Theo Tờ Hải ngoại, số 25, (ra ngày 13/9/1973), tù nhân bị giam giữ tại các nhà tù, trại giam ở miền Nam, tính đến ngày 01/6/1973: Bốn trại giam đặc biệt, gồm 13.200 người (trong đó, Côn Sơn 8.200 người, Thủ Đức 1.500 người, Tân Hiệp 2.500 người, Đà Lạt 1000 người); 37 khám đường các tỉnh, giam khoảng 50.000 người và các nhà giam quận, xã giam cầm 68.000 người. Tổng số người bị giam giữ là 171.200.
Để phục vụ chính sách bắt bớ, đàn áp phong trào kháng chiến, chính quyền Sài Gòn triệt để khai thác, sử dụng các nhà tù, nhà lao, trại giam có sẵn từ thời Pháp và liên tục mở rộng, xây dựng các loại nhà tù, nhà lao, nhà đày, trại giam, nhà giam mới…, thiết lập một hệ thống nhà tù, trại giam từ cấp trung ương, vùng, miền, tỉnh, quận huyện, đến cấp xã.
Các nhà tù, trại giam giam cấp trung ương, vùng miền tập trung ở Sài Gòn, Đà Nẵng, Huế, Côn Đảo, Phú Quốc, Buôn Ma Thuột, Đà Lạt. Trại giam Vùng I chiến thuật có Trại giam Đà Nẵng ở vùng Chợ Cồn, Non Nước, Ngũ Hành Sơn; Trại giam Vùng II chiến thuật thuộc tỉnh Pleiku; Trại giam ở Vùng III chiến thuật được xây dựng ở Hố Nai (Biên Hoà) đều được xây dựng và đưa vào sử dụng năm 1966. Trại giam Vùng IV chiến thuật có Trại giam Trà Nóc ở Cần Thơ và Trại giam tù binh Phú Tài, Quy Nhơn (Bình Định), hoàn thành và sử dụng năm 1967. Riêng Trại giam Phú Tài chủ yếu giam tù binh nữ, là cán bộ, chiến sĩ bị bắt ở các chiến trường Tây Nguyên, Quảng Ngãi, Bình Định v.v. Nhà tù, trại giam cấp tỉnh được xây dựng ở 44 tỉnh lỵ miền Nam[1].
Trong đó, có những nhà tù, trại giam, nhà lao lớn, nổi tiếng là “địa ngục trần gian” như Côn Đảo, Phú Quốc, Chí Hòa, Tân Hiệp…Nhà tù Côn Đảo thường xuyên giam giữ trên dưới 10.000 tù chính trị, nổi tiếng với chế độ “chuồng cọp” bị phát giác năm 1970. Trại giam tù binh cộng sản Việt Nam ở Phú Quốc tồn tại trong 6 năm (tháng 7/1967 đến tháng 3/1973), “là nơi Mỹ - Ngụy đã giam giữ hơn 40.000 chiến sĩ cách mạng, có hơn 4.000 người đã chết vì tra khảo, đánh đập với hơn 45 kiểu tra tấn từ thời trung cổ đến hiện đại, trắng trợn nổ súng với các khu giam hủy diệt người tù”[2].
Nhà tù Tân Hiệp, giữa năm 1955, được cải tạo, mở thành một trong sáu nhà tù lớn ở miền Nam với cái tên mị dân là “Trung tâm huấn chính Biên Hòa”, nhằm phân loại và cải tạo tư tưởng những người cộng sản, người yêu nước và kháng chiến cũ. Nhưng thực chất đây chính là một địa ngục khổng lồ xây dựng trên một địa ngục của những người đã chết, là nơi giam giữ những người cộng sản, yêu nước, cách mạng.
Giữa nơi “địa ngục trần gian”, những chiến sĩ cách mạng bị bắt, tù đày phải đối mặt với vô vàn thủ đoạn tra tấn tàn bạo, dã man, đê hèn của kẻ thù như lao động khổ sai, nhục hình, đói khát, bệnh tật,... với mục đích làm nhụt tinh thần yêu nước, ý chí đấu tranh, thủ tiêu những người yêu nước, cách mạng mà nòng cốt là các chiến sĩ cộng sản; triệt phá các tổ chức Đảng trong các nhà tù, trại giam. Nhưng tù đày không giam được khối óc, trái tim người cộng sản. Vượt qua nỗi đau về thể xác, khủng bố tinh thần, những chiến sĩ cách mạng bị bắt, tù đày vẫn giữ vững ý chí chiến đấu, giữ vững phẩm chất của người đảng viên cộng sản. Các tổ chức Đảng trong tù được thành lập, thực hiện phương châm “biến nhà tù đế quốc thành trường học cách mạng”, tổ chức, lãnh đạo đảng viên, quần chúng rèn luyện chí khí, bền bỉ đấu tranh với niềm tin bất diệt vào sự lãnh đạo của Đảng và đóng góp quan trọng vào thắng lợi của cuộc kháng chiến.
Bảo vệ lý tưởng cách mạng, giữ vững niềm tin chiến thắng
Phương châm của chính quyền Sài Gòn trong các nhà tù, trại giam là “muốn giữ tù yên thì không bao giờ để cho tù được yên”, cưỡng bức tù chính trị phải li khai cộng sản và lãnh tụ Hồ Chí Minh; bắt học tố cộng, chào cờ “quốc gia” hô khẩu hiệu phản động, v.v. nhằm “gột rửa tư tưởng cộng sản”, biến người cách mạng thành kẻ phản bội lí tưởng, phản bội tổ chức và lãnh tụ của mình, làm tha hóa phẩm chất, nhân cách, tàn phế con người để khi được trả tự do cũng không thể dung nạp vào đội ngũ chiến đấu.
Chính vì vậy, cuộc đấu tranh chính trị, tư tưởng, bảo vệ khí tiết người cộng sản, phẩm chất của người chiến sĩ cách mạng là nội dung cơ bản trong phong trào đấu tranh của tù chính trị, tù binh cộng sản tại các nhà tù, trại giam của địch ở miền Nam.
Tại nhà tù Côn Đảo, chống ly khai cộng sản là hình thức đấu tranh cao nhất, bảo vệ lí tưởng cộng sản, bảo vệ uy tín của Chủ tịch Hồ Chí Minh, đấu tranh cho mục tiêu hoà bình thống nhất nước nhà, bảo vệ đường lối giải phóng dân tộc của Đảng. Đấu tranh chống li khai là ngọn cờ, là linh hồn trong phong trào đấu tranh của tù chính trị Côn Đảo.
Trong điều kiện khắc nghiệt, việc tổ chức học, rèn luyện tập tài liệu Dũng khí cách mạng qua tấm gương của các đồng chí Hoàng Văn Thụ, Trần Phú, Nguyễn Thị Minh Khai, học Kinh nhật tụng của người chiến sĩ, học Chỉ thị bảo vệ khí tiết[3], về Đường lối cách mạng miền Nam[4]... đã trở thành những nội dung sinh hoạt tư tưởng để nâng cao ý chí đấu tranh của tập thể tù chính trị. Đó là tiêu chuẩn về phẩm chất đạo đức của người chiến sĩ cách mạng trong tù, trở thành “vũ khí sắc bén để đấu tranh một mất một còn với kẻ thù, để trui rèn phẩm chất cách mạng, giáo dục tình đồng chí và nhân cách con người”.

Một góc Khu di tích lịch sử quốc gia đặc biệt Nhà tù Côn Đảo
Trong đấu tranh trực diện chống ly khai, tù chính trị Côn Đảo chịu nhiều hi sinh, tổn thất, nhưng địch có thể tiếp tục đánh giết cao hơn, dù phải hi sinh đến người cuối cùng nhưng những anh em còn lại hãy quyết tâm quyết tử chiến đấu đến hơi thở cuối cùng, giữ vững ngọn cờ Đảng giữa lao tù Côn Đảo. Bảo vệ khí tiết đã trở thành lập trường nguyên tắc.
Sau 5 năm kể từ chuyến lưu đày tù chính trị đầu tiên ra Côn Đảo (11/01/1957), gần 500 người đã anh dũng hy sinh, nhưng những người còn lại vẫn giương cao ngọn cờ quyết tử chống ly khai. Các chiến sĩ cộng sản, những người yêu nước vẫn trụ vững giữa sào huyệt kẻ thù, giữa nanh vuốt khủng bố của chế độ chống cộng cực đoan và tàn bạo nhất.
Toàn thể tù chính trị đã tôn vinh: Phan Trọng Bình, Phạm Quốc Sắc, Nguyễn Minh, Lê Văn Một, Nguyễn Đức Thuận là Năm ngôi sao sáng; các liệt sĩ Cao Văn Ngọc, Lưu Chí Hiếu, Trần Trung Tín là những ngôi sao sáng nhất. Kinh nghiệm chiến đấu và chiến thắng của những ngôi sao sáng được toàn thể tù chính trị Côn Đảo tổng kết thành bài học để rèn luyện và noi theo, vươn lên trong cuộc đấu tranh bảo vệ khí tiết. Đó là: “Đặt lên hàng đầu nhiệm vụ đấu tranh bảo vệ khí tiết; Thống nhất tư tưởng, ý chí và hành động; Đoàn kết chiến đấu; Biết tranh thủ, thuyết phục kẻ thù; Tránh bộc lộ lực lượng, hạn chế tổn thất; và kinh nghiệm quan trọng nhất là Quyết tâm-Quyết tử-Tự lực-Trường kì”. Đồng chí Phạm Văn Đồng đã viết: “Cuộc chiến đấu bất khuất, đầy dũng cảm và thông minh của các chiến sĩ Côn Đảo là những trang chói lọi của lịch sử cách mạng, được nối tiếp và nhân lên trong chủ nghĩa anh hùng cách mạng rực rỡ của nhân dân ta qua kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ. Sự hy sinh cao cả của biết bao liệt sĩ trong cuộc chiến đấu ấy đã và đang tiếp tục khai hoa, kết quả trong những thắng lợi và thành tựu của dân tộc Việt Nam ta”1 .
Trong các nhà tù, trại giam tù binh cộng sản, một trong các nhiệm vụ trọng tâm của các tổ chức Đảng ở trong nhà tù là giáo dục tư tưởng chính trị. Nội dung là Mười lời thề trong quân đội, lời dạy của Bác “Trung với Đảng, hiếu với dân” và học tập tinh thần lạc quan cách mạng của Người qua tác phẩm Nhật ký trong tù: “Thân thể ở trong lao, Tinh thần ở ngoài lao, Muốn nên nghiệp lớn, Tinh thần càng phải cao". Thường xuyên rèn luyện, giáo dục cán bộ chiến sĩ, đảng viên, đoàn viên... không may sa vào tay giặc, vượt qua mọi cực hình, đày ải, tra tấn... đoàn kết, gắn bó máu thịt, một lòng trung thành với Đảng, với cách mạng và niềm tin sắt đá vào thắng lợi cuối cùng của cách mạng.
Lòng yêu nước và tinh thần đấu tranh chống kẻ thù xâm lược của những người cộng sản, những chiến sỹ cách mạng càng ngời sáng, tinh thần và chí khí của người cộng sản luôn được giữ vững và phát huy. Trong tù, các chiến sĩ cộng sản, cách mạng luôn đoàn kết, đùm bọc nhau; chia sẻ từ hạt muối, ngụm nước, gánh chịu cho nhau khi đòn roi, cực hình, giữ vững quyết tâm dù phải hy sinh nhưng nhất định không rời tập thể, không bỏ lý tưởng.
Bản lĩnh chính trị, tư tưởng vững vàng chính là vũ khí sức bén giúp các chiến sĩ cách mạng kiên cường đấu tranh chống lại chế độ nhà tù man rợ, bằng mọi phương cách, từ hò la phản đối, tuyệt thực, tự rạch bụng đến tiêu diệt ác ôn, cướp súng, đánh quân cảnh, vượt ngục…, giữ vững khí tiết, niềm tin chiến thắng. Từ tấm gương của những người cộng sản, những chiến sĩ yêu nước, cách mạng, nhiều quần chúng ưu tú đã tích cực phối hợp với các đảng viên, cấp ủy trong tù vừa đảm bảo hoạt động bí mật, vừa tạo thành khối đoàn kết, hun đúc lòng căm thù giặc và một lòng hướng về Đảng, hướng về Tổ quốc, chờ ngày thuận lợi để thoát ra ngoài, tiếp tục chiến đấu.
(Còn tiếp)
[1].Nhà tù, trại giam cấp tỉnh: Quảng Trị, Thừa phủ (Huế), Thanh Tân Ồ Ồ (Thừa Thiên), Đà Nẵng, Quảng Nam, Quảng Ngãi, Quy Nhơn (Bình Định), Pleiku, Kon Tum, Tuy Hoà, Củng Sơn (Phú Yên), Nha Trang (Khánh Hoà), Phan Rang (Ninh Thuận), Phan Thiết (Bình Thuận), Plei ku, v.v (miền Trung và Tây Nguyên); Tân Hiệp (Biên Hoà), Bà Rịa, Phú Lợi (Thủ Dầu Một), Thủ Đức, Phú Nhuận (Gia Định), Tân An, Chợ Lớn (Long An), Tây Ninh, Lộc Ninh (Bình Phước); Bến Tre, Mỹ Tho, Vĩnh Long, Cần Thơ, An Giang, Sóc Trăng, Hậu Giang, Bạc Liêu, Trà Vinh, Cà Mau, Kiên Giang, v.v. Hệ thống nhà lao, trại tạm giam ở 247 quận, thuộc 44 tỉnh, đô thành miền Nam, nổi tiếng dã man là các trại tạm giam quận lỵ Phụng Hiệp, Long Mỹ, Đức Long (Phong Dinh và Ba Xuyên); quận 1, quận 5, Phú Lâm ( Sài Gòn) ...
[2] Theo Phạm Bá Lữ, Trưởng ban liên lạc tù binh Việt Nam, tại Hội thảo ngày 10/12/2014.
[3]Chỉ thị do Liên chi ủy Nhà lao Gia Định khởi thảo đã được các đồng chí mới lưu đày ra phổ biến
[4] Kinh nhật tụng gồm 12 phần, 196 câu theo thể song thất lục bát, do nhà thơ Khương Hữu Dụng biên soạn với sự cộng tác của Nguyễn Đình và Nguyễn Đình Thư, xuất bản tại Liên khu V tháng 5/1946, trên cơ sở tập Tuyên truyền Việt Minh (Tủ sách huấn luyện, Việt Bắc, 1944). Chuyên đề “Tù nhân Côn Đảo với Bác Hồ”, lưu tại Phòng Lịch sử Đảng, Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy Bà Rịa Vũng Tàu.
1 Phạm Văn Đồng, lời tựa cuốn sách Nhà tù Côn Đảo 1862-1945, Nhà xuất bản Sự thật, Hà Nội 1987, tr, 4-5.
