Thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám là kết quả tổng hợp của nhiều yếu tố, trong đó Mặt trận Việt Minh đã tập hợp đông đảo quần chúng, hình thành lực lượng chính trị hùng hậu để xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc, đưa Cách mạng Tháng Tám tới thắng lợi vẻ vang
Nhận thức của Đảng và sự ra đời Mặt trận Việt Minh
Trong các nhân tố tạo nên thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám, việc xây dựng và phát huy sức mạnh của khối đại đoàn kết dân tộc có ý nghĩa đặc biệt. Để chuyển tinh thần yêu nước của đông đảo nhân dân thành lực lượng chính trị có tổ chức, Đảng đã từng bước xây dựng các hình thức mặt trận phù hợp với từng giai đoạn cách mạng. Sự ra đời của Mặt trận Việt Minh ngày 19/5/1941 là một bước phát triển quan trọng trong quá trình đó.
Mặt trận Việt Minh ra đời trong bối cảnh nhiệm vụ giải phóng dân tộc được đặt lên vị trí hàng đầu. Khác với việc chỉ vận động một bộ phận xã hội, Mặt trận hướng tới tập hợp rộng rãi mọi lực lượng có khả năng tham gia sự nghiệp cứu nước.
Một trong những yêu cầu cấp thiết của cách mạng Việt Nam khi Chiến tranh thế giới thứ hai bùng nổ là xác định đúng nhiệm vụ chiến lược và xây dựng một hình thức tổ chức có khả năng quy tụ lực lượng rộng rãi. Trên cơ sở thay đổi chiến lược, Đảng nhấn mạnh nhiệm vụ giải phóng dân tộc, đồng thời chủ trương tập hợp tất cả các lực lượng yêu nước vào một mặt trận thống nhất.
Ngày 19/5/1941, Mặt trận Việt Nam Độc lập Đồng minh (Việt Minh) được thành lập. Sự kiện này đánh dấu bước phát triển mới của quá trình xây dựng Mặt trận Dân tộc Thống nhất. Điểm nổi bật trong phương thức hoạt động của Mặt trận Việt Minh là xác định lợi ích dân tộc và mục tiêu độc lập làm cơ sở để quy tụ những lực lượng có sự khác biệt về thành phần xã hội, khuynh hướng chính trị, tôn giáo và nghề nghiệp.
Chủ trương đó được thể hiện trong quan điểm của Mặt trận Việt Minh về việc “liên hiệp hết thảy các giới đồng bào yêu nước, không phân biệt giàu nghèo, già trẻ, gái trai, không phân biệt tôn giáo và xu hướng chính trị, đặng cùng nhau mưu cuộc dân tộc giải phóng và sinh tồn”[1].
Đây không đơn thuần là một khẩu hiệu tập hợp lực lượng mà còn phản ánh sự điều chỉnh phương thức tổ chức của cách mạng trước yêu cầu đặt nhiệm vụ dân tộc lên hàng đầu.
Trong chủ trương cứu nước, Mặt trận Việt Minh cũng khẳng định: “Việt Minh chủ trương liên hiệp hết các tầng lớp nhân dân, các đoàn thể cách mạng, các dân tộc bị áp bức ở Đông Dương, đặng đánh đổ chủ nghĩa đế quốc, làm cho nước Việt Nam và cả xứ Đông Dương được hoàn toàn độc lập”[2].
Trên cơ sở đó, Mặt trận Việt Minh từng bước xây dựng và phát triển hệ thống các đoàn thể cứu quốc phù hợp với đặc điểm của từng giai cấp, tầng lớp và các lực lượng xã hội, như Nông dân Cứu quốc, Phụ nữ Cứu quốc, Thanh niên Cứu quốc, Công nhân Cứu quốc... Thông qua hệ thống tổ chức này, Việt Minh đã cụ thể hóa chủ trương đại đoàn kết dân tộc thành những hình thức tổ chức và phương thức vận động quần chúng phù hợp với từng đối tượng, qua đó, mở rộng lực lượng cách mạng, tập hợp đông đảo các tầng lớp nhân dân vào mặt trận đấu tranh vì mục tiêu giải phóng dân tộc.
Một nhân tố quan trọng tạo nên khả năng tập hợp rộng rãi của Mặt trận Việt Minh là xây dựng chương trình cứu nước tương đối toàn diện. Chương trình 44 điểm đề cập các lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, hướng vào hai mục tiêu cơ bản: Làm cho nước Việt Nam hoàn toàn độc lập; Làm cho dân Việt Nam sung sướng, tự do[3]. Qua đó, Mặt trận Việt Minh cụ thể hóa mục tiêu giải phóng dân tộc gắn với lợi ích thiết thực của quần chúng, góp phần củng cố và mở rộng khối đại đoàn kết toàn dân.
Việc gắn mục tiêu độc lập dân tộc với lợi ích thiết thực của nhân dân giúp Việt Minh mở rộng cơ sở xã hội của phong trào. Các chủ trương, chính sách không chỉ đáp ứng lợi ích của lực lượng nòng cốt mà còn phù hợp với nguyện vọng của nhiều tầng lớp nhân dân, từng bước đưa đoàn kết dân tộc từ liên minh chính trị trở thành sự gắn kết với những nhu cầu cụ thể của đời sống.

Chương trình của Mặt trận Việt Minh (Ảnh tư liệu)
Mặt trận Việt Minh xây dựng khối đại đoàn kết dân tộc, làm nên thắng lợi Cách mạng Tháng Tám
Từ cuối năm 1941, phong trào Việt Minh phát triển mạnh ở nhiều địa phương, trong đó Cao Bằng trở thành một trung tâm quan trọng. Đến năm 1942, ba trong chín châu ở Cao Bằng đã hoàn toàn tham gia Mặt trận Việt Minh, các xã đều có Ủy ban Việt Minh. Từ Cao Bằng, phong trào tiếp tục lan rộng sang Lạng Sơn, Bắc Kạn, Thái Nguyên và nhiều địa bàn khác. Năm 1943, Ủy ban Việt Minh liên tỉnh Cao – Bắc – Lạng tổ chức các ban xung phong “Nam tiến”, góp phần mở rộng mối liên hệ giữa căn cứ Việt Bắc với các địa phương miền xuôi.
Như vậy, trong những năm đầu, Mặt trận Việt Minh từng bước xây dựng mạng lưới tổ chức rộng khắp, tạo cơ sở hình thành và phát triển lực lượng chính trị của cách mạng. Đây là tiền đề quan trọng để Đảng tiếp tục chuẩn bị lực lượng và điều kiện cho cuộc khởi nghĩa giành chính quyền.
Sự phát triển của phong trào Mặt trận Việt Minh trong những năm 1941–1942, cùng với những thay đổi của tình hình quốc tế, đặt ra yêu cầu tiếp tục mở rộng Mặt trận Dân tộc Thống nhất. Từ ngày 25 đến 28/2/1943, Ban Thường vụ Trung ương Đảng họp tại Võng La, Đông Anh, Phúc Yên, bàn về việc mở rộng mặt trận và xúc tiến chuẩn bị khởi nghĩa vũ trang.
Thực hiện chủ trương này, phạm vi tập hợp lực lượng của Mặt trận Việt Minh tiếp tục được mở rộng. Năm 1943, Hội Văn hóa Cứu quốc được thành lập; tháng 6/1944, Đảng Dân chủ Việt Nam ra đời với sự tham gia của một bộ phận trí thức tiến bộ, yêu nước và được thu hút vào Mặt trận Việt Minh. Những bước phát triển đó cho thấy phạm vi xã hội của Mặt trận ngày càng đa dạng, vượt ra ngoài các lực lượng quần chúng truyền thống.
Trong hai năm 1943–1944, các đoàn thể của Mặt trận Việt Minh tiếp tục được xây dựng tại nhiều tỉnh, thành phố, nhà máy và trường học. Ở Hà Nội, tổ chức Việt Minh phát triển trong một số cơ sở công nghiệp và trường học; tại Sài Gòn, Gia Định và một số đô thị Nam Bộ, các tổ chức công hội, thanh niên, phụ nữ được hình thành. Ở Việt Bắc, các “xã hoàn toàn”, “tổng hoàn toàn” tạo cơ sở cho việc hình thành và mở rộng căn cứ địa cách mạng.
Bước sang đầu năm 1944, khi chiến tranh chống phát xít chuyển sang giai đoạn có lợi cho lực lượng Đồng minh, điều kiện khách quan cho cách mạng Việt Nam có nhiều chuyển biến. Trên cơ sở phong trào quần chúng đã phát triển, các đội Cứu quốc quân được xây dựng, vừa thực hiện nhiệm vụ vũ trang tuyên truyền, vừa hỗ trợ mở rộng căn cứ và vận động quần chúng.
Tháng 5/1944, Tổng bộ Việt Minh ra chỉ thị đẩy mạnh chuẩn bị khởi nghĩa. Ngày 22/12/1944, Đội Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân được thành lập; những trận đánh đầu tiên ở Phay Khắt và Nà Ngần đã tạo ảnh hưởng tích cực đối với phong trào cách mạng, đồng thời khẳng định khả năng kết hợp giữa xây dựng lực lượng chính trị với lực lượng vũ trang.
Qua đó, Mặt trận Việt Minh không chỉ mở rộng lực lượng quần chúng mà còn góp phần xây dựng cơ sở chính trị - xã hội cho lực lượng vũ trang, tạo điều kiện quan trọng cho công tác chuẩn bị Tổng khởi nghĩa.
Ngày 09/3/1945, Nhật đảo chính Pháp, độc chiếm Đông Dương. Trước tình hình mới, ngày 12/3/1945, Ban Thường vụ Trung ương Đảng ban hành Chỉ thị “Nhật – Pháp bắn nhau và hành động của chúng ta”, xác định phát xít Nhật là kẻ thù chính, cụ thể và trước mắt. Trên cơ sở đó, cao trào kháng Nhật cứu nước được phát động, tạo tiền đề trực tiếp cho Tổng khởi nghĩa. Trong cao trào, Mặt trận Việt Minh tiếp tục đẩy mạnh xây dựng cơ sở chính trị, tập hợp lực lượng yêu nước và phân hóa hàng ngũ đối phương.
Ngày 12/4/1945, Mặt trận Việt Minh ra lời kêu gọi các quan chức và những người có tinh thần yêu nước tham gia phong trào, qua đó, phạm vi vận động được mở rộng, góp phần tranh thủ thêm lực lượng, làm suy yếu bộ máy thống trị của đối phương và tạo điều kiện thuận lợi cho Tổng khởi nghĩa.
Cùng với việc củng cố, mở rộng Mặt trận Việt Minh, Đảng đã đề ra chủ trương, chính sách đúng đắn, ra khẩu hiệu đấu tranh đúng đắn, phù hợp: “Phá kho thóc giải quyết nạn đói”. Chủ trương này đã đáp ứng đúng nguyện vọng bức thiết của nhân dân và qua phong trào này quần chúng nhân dân đã nhận rõ rằng muốn giành quyền sống cho mình phải đoàn kết dưới ngọn cờ của Việt Minh đấu tranh đánh đổ ách thống trị của phát xít Nhật và bè lũ tay sai của chúng. Khẩu hiệu này có ý nghĩa to lớn đã “thổi bùng ngọn lửa căm thù trong đông đảo nhân dân và phát động quần chúng vùng dậy với khí thế cách mạng hừng hực tiến tới khởi nghĩa giành chính quyền”[4].

Nhân dân Hà Nội mít tinh giành chính quyền trong Cách mạng Tháng Tám (Ảnh tư liệu)
Trong quá trình phát triển cao trào kháng Nhật cứu nước, vấn đề đời sống của quần chúng trở thành một nội dung trực tiếp của phong trào. Khẩu hiệu “Phá kho thóc giải quyết nạn đói” đã đáp ứng yêu cầu cấp bách của nhân dân trong bối cảnh nạn đói nghiêm trọng.
Tại Nam Bộ, từ tháng 5/1945, Thanh niên Tiền phong nhanh chóng phát triển, thu hút đông đảo quần chúng; cơ sở Việt Minh từng bước được xây dựng trong công sở và các đơn vị bảo an, tạo điều kiện chuyển từ vận động quần chúng sang giành chính quyền khi thời cơ đến.
Ngày 15/8/1945, Chính phủ Nhật tuyên bố đầu hàng Đồng Minh. Ngày 16/8/1945, Đại hội Quốc dân Tân Trào quyết định tổng khởi nghĩa và kêu gọi nhân dân toàn quốc đứng lên giành lấy chính quyền, xây dựng một nước Việt Nam dân chủ cộng hoà trên nền tảng hoàn toàn độc lập. Tổng khởi nghĩa Tháng Tám diễn ra nhanh chóng, chỉ trong vòng chưa đầy nửa tháng, ách cai trị ngoại bang gần 100 năm và chế độ quân chủ tồn tại nghìn năm ở nước ta về cơ bản bị sụp đổ hoàn toàn.
Đây là thắng lợi của sức mạnh đoàn kết toàn dân tộc dưới sự lãnh đạo của Đảng và Mặt trận Việt Minh với những chủ trương, chính sách mềm dẻo, đúng đắn. Mặt trận Việt Minh đã tập hợp, phát động được đông đảo quần chúng từ nông thôn đến thành thị, từ chiến khu về đồng bằng đồng lòng đứng lên khởi nghĩa giành chính quyền. Thông qua chính sách đoàn kết, phân hóa và tranh thủ các lực lượng, Việt Minh thu hút thêm một bộ phận quan chức, công chức, binh lính và các lực lượng xã hội khác ủng hộ cách mạng, đồng thời làm suy yếu bộ máy chính quyền cũ.
Qua đó, Việt Minh đã góp phần chuyển lòng yêu nước thành sức mạnh chính trị có tổ chức, tạo cơ sở xã hội rộng lớn để Đảng phát huy thời cơ, lãnh đạo toàn dân tiến hành Tổng khởi nghĩa Tháng Tám năm 1945 thắng lợi.
Bài học kinh nghiệm từ quá trình ra đời và hoạt động của Mặt trận Việt Minh
Đứng trước bài toán thời cuộc đầy phức tạp, Đảng Cộng sản Đông Dương và Mặt trận Việt Minh đã tìm được lời giải đúng đắn: Tổng khởi nghĩa Tháng Tám và thành lập Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Từ quá trình đó có thể rút ra một số bài học kinh nghiệm sau:
Một là, sự thành lập mặt trận Việt Minh không phải là một hiện tượng đột biến trong cuộc đấu tranh giành chính quyền, Mặt trận Việt Minh là sự tiếp nối đường lối mặt trận dân tộc thống nhất do Đảng cộng sản đề ra từ năm 1930. Đó là sự tiếp tục mặt trận phản đế trên cơ sở sự thay đổi chiến lược của Đảng khi chiến tranh thế giới bùng nổ. Đó là lý do chủ yếu làm cho Việt Minh xuất hiện khá sớm sau khi Phát xít Nhật xâm lược Việt Nam và Đông Dương.
Hai là, vấn đề cốt lõi được đặt lên hàng đầu là giải phóng dân tộc. Nhiệm vụ cơ bản được khẳng định là đoàn kết rộng rãi mọi lực lượng yêu nước để đấu tranh cho nền độc lập, giành lấy chính quyền và thành lập nhà nước Dân chủ Cộng hòa. Với mục tiêu đó, mọi lực lượng cản trở nền độc lập đều là kẻ thù của dân tộc; trước đây là Pháp, sau tháng 9/1940 là đế quốc phát xít Pháp - Nhật và sau cuộc đảo chính tháng 3/1945 là Nhật. Việc xác định một cách dứt khoát kẻ thù của nền độc lập làm cho việc chỉ đạo cách mạng được tiến hành nhất quán, triệt để không một chút mơ hồ, không để cơ hội cho thực hiện, không để cơ hội cho thực dân Pháp lập lại nền thống trị thực dân.
Ba là, mặt trận dân tộc thống nhất về nguyên tắc là sự liên kết rộng rãi các lực lượng có cùng một mục tiêu đấu tranh. Mối quan hệ giữa các thành viên trong mặt trận phản ánh tương quan lực lượng trong thực tế. Các phe nhóm hoặc cá nhân tham gia Mặt trận Việt Minh, đều thừa nhận sự lánh đạo của Đảng cộng sản và lãnh tụ Hồ Chí Minh. Trên thực tế, Việt Minh là người chủ thực sự của tình hình, là lực lượng đoàn kết dân tộc, đưa cách mạng đến thắng lợi hoàn toàn.
Bốn là, trong cuộc chiến tranh thế giới thứ hai, nhiệm vụ giải phóng dân tộc gắn liền với nhiệm vụ đấu tranh chống phát xít. Điều đó cho phép các mặt trận dân tộc các nước liên hệ và tìm kiếm sự giúp đỡ của các lực lượng Đồng Minh; Myanmar, Malaysia nhờ vào Anh; Thái Lan, Philippinne trông vào Mỹ; Việt Minh cũng bắt liên lạc và tranh thủ được một vài sự giúp đỡ nào đó về phương tiện kỹ thuật của Mỹ, đồng thời giữ thái độ thân thiện với Trung Hoa dân quốc. Nhưng điều cơ bản là Đảng khẳng định phải tự thực hiện sự nghiệp cứu nước, không được ỷ lại vào bên ngoài cũng như không mơ hồ về dã tâm của Mỹ - Trung Hoa dân quốc trong ý đồ xâm chiếm nước ta. Cho nên ở Việt Nam không diễn ra hiện tượng quân Đồng Minh vào “giải phóng” cho ta mà ngược lại, sau khi thành lập Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, Nhà nước đó đóng vai trò người chủ đón tiếp Đồng Minh vào giải giáp quân Nhật.
Năm là, Mặt trận Việt Minh bằng công tác vận động quần chúng sâu rộng và phương pháp tổ chức chặt chẽ đã sớm hình thành một Khu giải phóng ở Việt Bắc. Tại những nơi đó, Việt Minh đồng thời thực hiện chức năng của một chính quyền nhân dân trên cơ sở 10 chính sách được quần chúng hưởng ứng. Đó là một bước thực tập cần thiết để đến giữa tháng Tám, xây dựng được ngay một chính quyền cách mạng trên quy mô cả nước.
Việt Minh ra đời là kết quả của một quá trình vận động cách mạng ở Việt Nam, kết quả thắng lợi của tư tưởng độc lập, tự do và chiến lược đại đoàn kết dân tộc Hồ Chí Minh, của Đảng ta, kết quả của một tư tưởng khoa học và sáng tạo, khắc phục tư tưởng ấu trĩ, “tả khuynh”, giáo điều rập khuôn.
Cuộc Tổng khởi nghĩa Tháng Tám năm 1945 của nhân dân Việt Nam đã giành được thắng lợi, mục tiêu cứu nước của Việt Minh đã trở thành hiện thực. Việt Minh đã trở thành một tổ chức mặt trận tiêu biểu, hoàn chỉnh, sáng chói như một mốc son đánh dấu sự ra đời của mặt trận dân tộc thống nhất trong cách mạng Việt Nam.
[1] Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2000, t.7, tr. 465.
[2] Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Sđd, t. 7, tr. 470.
[3] Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Sđd, t. 7, tr. 474.
[4] Lê Duẩn: Dưới lá cờ vẻ vang của Đảng, vì độc lập tự do, vì chủ nghĩa xã hội tiến lên giành những thắng lợi mới, Nxb. Sự thật, Hà Nội, 1970, tr. 43
