Mỗi độ Tết đến, xuân về, những câu chuyện quanh con giáp của năm lại được nhắc nhớ như một cách mở đầu cho niềm hy vọng và những chuyển động mới. Bước sang năm Bính Ngọ 2026, hình tượng con ngựa – biểu trưng của sức mạnh, bền bỉ và khát vọng vươn lên – gợi nhiều suy ngẫm về chiều sâu văn hoá trong đời sống tinh thần của người Việt.

Hình tượng Ngựa gắn liền với đời sống văn hóa Việt Nam. Ảnh minh họa bởi AI

Ngựa trong nghi lễ, lễ hội văn hoá dân gian

Con ngựa đã đi vào sự nghiệp giữ nước của nhân dân ta từ thuở ban sơ qua câu chuyện Thánh Gióng. Mỗi người Việt lớn lên, được nuôi dưỡng từ những truyền thuyết, thần thoại dân gian, hẳn khó ai quên được hình ảnh con ngựa phun lửa, cùng cậu bé Thánh Gióng quét sạch quân Ân; sau khi thắng giặc, ngựa đưa chủ nhân bay về trời, hoá thân thành bậc thánh. Gắn với truyền thuyết ấy là hệ thống lễ hội Gióng có quy mô lớn, tiêu biểu như hội trận làng Gióng diễn ra từ mồng 5 đến mồng 9 tháng Giêng; hội Gióng tại đình Sen Hồ, làng Chí Nam (Hà Nội); và hội đền Sóc ở núi Sóc (Hà Nội), được tổ chức hằng năm từ ngày 6 đến ngày 7 tháng Giêng với sự tham gia của nhiều làng. Trong các lễ hội này, dân làng thực hiện nghi lễ dâng hoa tre – những mảnh tre vót mỏng, đầu tuốt bông, nhuộm phẩm ngũ sắc – được xem như roi của Thánh Gióng.

Không chỉ xuất hiện trong truyền thuyết thời Hùng – Gióng, hình tượng ngựa còn được tiếp nối và huyền thoại hoá trong các câu chuyện lịch sử. Thời Lý, truyền thuyết kể rằng ngựa trắng từ đền Bạch Mã đã chạy ngược chiều một vòng quanh đất Thăng Long, nơi vua Lý Thái Tổ vừa chọn làm kinh đô. Hình tượng ngựa khi ấy được gắn với hình ảnh rồng, phản ánh ước mơ về sức mạnh thuỷ binh của người Việt trong buổi đầu dựng nước. Dấu ấn này còn thể hiện trong lễ hội bơi thuyền ở làng Tây Đăm (Từ Liêm, Hà Nội), diễn ra từ mồng 9 đến 13 tháng 3 âm lịch hằng năm trên một đoạn sông Nhuệ, tái hiện cảnh thuỷ binh thời Hùng Vương. Bên cạnh những thuyền tạc hình đầu hạc, đầu rồng, còn có thuyền mang hình đầu long mã, gợi nhắc sự kết hợp biểu trưng giữa ngựa và các linh vật thiêng.

Ngựa trong nghệ thuật ngôn từ

Ngoài việc gắn với thần thoại Thánh Gióng, hình tượng ngựa còn xuất hiện phong phú trong kho tàng truyện cổ dân gian như Lục súc tranh công, chuyện Thằng Bờm có ngựa. Trong các giai thoại dân gian, ngựa hiện diện qua những câu nói quen thuộc như “Vì xã tắc, chân ngựa đá cũng lấm bùn”, hay các tích “ngựa ba chân”, “ngựa về đường Bưởi”. Trong truyện cười, hình ảnh ngựa cũng được khai thác sinh động qua câu chuyện “Sáu cẳng nhanh hơn bốn vó”, góp phần tạo nên sắc thái hài hước, dí dỏm của văn học dân gian.

Trong văn học bác học, ngựa xuất hiện nhiều lần trong Truyện Kiều của Nguyễn Du. Dưới bàn tay tài hoa của nhà thơ, ngựa không chỉ là phương tiện di chuyển mà còn được thuần dưỡng, mang những sắc thái khác nhau, gắn với tính cách và số phận của từng nhân vật. Từ đó, hình tượng ngựa trở thành một biểu tượng thơ giàu sức gợi qua những câu như: “Thanh gươm yên ngựa lên đường thẳng rong”, “vó câu ruổi thẳng nước non quê nhà”, hay “Sở Khanh đã rẽ dây cương lúc nào”…

Đặc biệt, hình tượng ngựa được thể hiện đậm nét trong hệ thống thành ngữ, tục ngữ Việt Nam. Là loài vật gần gũi, quen thuộc với đời sống người dân từ lâu đời, con ngựa qua ca dao, tục ngữ đã trở thành phương tiện để ông cha gửi gắm những bài học giàu giá trị nhân văn. Câu “Ngựa non háu đá” phê phán những kẻ non nớt, học hành chưa đến nơi đến chốn, tài đức còn hạn chế nhưng lại phách lối, hung hăng tranh giành quyền lợi, địa vị. “Thẳng như ruột ngựa” dùng để khen những người sống trung thực, khí khái, dám đấu tranh với những sai trái, tiêu cực trong xã hội. Thành ngữ “Da ngựa bọc thây” thể hiện ý chí làm trai, sẵn sàng hy sinh vì nghĩa lớn; còn câu “ngựa hay lắm tật” được dùng để bênh vực những người tài hoa, giỏi giang nhưng đôi khi bướng bỉnh, khác thường.

Bên cạnh đó, các câu “Ngựa nào gác được hai yên” nhắc nhở con người làm việc gì cũng cần biết lượng sức, không nên ôm đồm; “Đường dài mới hay sức ngựa, sống lâu mới hiểu hết lòng người” nói về giá trị của thời gian và thử thách; hay “Một con ngựa đau, cả tàu không ăn cỏ” đề cao tinh thần đoàn kết, tương thân tương ái, sẻ chia khó khăn trong cộng đồng. Có thể thấy, qua hình tượng con ngựa, hệ thống thành ngữ, tục ngữ Việt Nam đã kết tinh bao kinh nghiệm sống, cách ứng xử và những chiêm nghiệm sâu sắc về tình người.

Ngựa trong điêu khắc, nghệ thuật tạo hình

Từ thời Lý, hình tượng ngựa xuất hiện nhiều trong điêu khắc Phật giáo, điêu khắc lăng mộ, đình làng. Điển hình là cặp ngựa đá trước thềm chùa Phật Tích (Bắc Ninh), “Đó là một cặp ngựa béo thể hiện vẻ đẹp phồn thực cao chừng 1,2m, dài 1,5 m, với phần thân được thể hiện bằng các khối dày, căng, còn bộ đầu trông rất thực, bờm dài, mượt, rẽ đều về hai bên gáy” (1). Hay ngựa điêu khắc trên đá chùa Bút Tháp (Bắc Ninh), hình tượng ngựa được nhắc tới nhiều lần trong sự đa dạng của thế giới động vật: chim, cò, trâu, hươu, khỉ, dê, thỏ, sư tử, hổ, rồng, cá chép, kỳ lân,… Nhìn chung hình tượng ngựa dưới thời Lý “không chỉ khiến ta vui và bị cái đẹp tạo hình hấp dẫn, mà còn mang ý nghĩa tượng trưng cho ánh sáng hay chí ít cũng tượng trưng cho chớp, một hiện tượng tự nhiên gắn với mây mưa” (2).

Đến thời Trần, hình tượng ngựa xuất hiện nhiều trên điêu khắc lăng mộ, như xuất hiện trên tấm bùn trên lăng mộ Trần Thái Tông. Từ thời đại Lê sơ, hình tượng ngựa trên lăng mộ và trong các sáng tác mỹ thuật trở nên dày đậm hơn và được bảo tồn nhiều hơn. Ngựa xuất hiện trên lăng mộ của các vua Lê sơ, đặc biệt con ngựa được xem đẹp nhất là trên mộ vua Lê Thánh Tông. Ngựa thời kỳ này “có kích thước nhỏ, tính ước lệ cao, tỷ lệ không được các nghệ sĩ quan tâm, đường nét trang trí khá đơn giản” (3). Dưới thời Nguyễn, tượng ngựa cũng phổ biến ở các lăng mộ, về cơ bản, tượng ngựa ở các lăng vua Nguyễn không giống nhau, nhưng so với trước đó thì “có phần nghèo hơn cả về đề tài lẫn bố cục” (4). Tuy nhiên, tượng ngựa thời kỳ này có kích thước gần với con vật thật, hoàn toàn có thể đứng tách riêng như một tác phẩm độc lập.

Trong điêu khắc đình làng, hình tượng ngựa khoáng đạt và giàu biểu cảm hơn. Là giống vật hiền lành, có nhiều phẩm chất được con người yêu mến, ngựa đã trở thành một trong hai thành phần cơ bản, cùng với rồng tạo nên hình tượng long – mã (một linh vật trong hệ thống biểu trưng phương Đông), giống vật thiêng, tượng trung cho cả không gian lẫn thời gian, cho sự hài hoà của âm dương, đem đến cho con người điềm lành. Hình tượng ngựa hiện diện trên phù điêu các đình, đồng thời còn được thể hiện dưới dạng tượng gỗ độc lập, như các cặp ngựa gỗ thường được bày trong các đình chùa, đền đài, miếu mạo, có tầm vóc như ngựa thật với đầy đủ các giống hồng, tía, bạch,… được đặt trên bánh xe để có thể di chuyển. “Trong ngày hội, ngựa được dân làng đẩy đi giữa đám rước, có lọng che cung kính như có sự hiện diện thực sự của thánh thần” (5).

Hình tượng ngựa còn được biểu hiện ở nhiều hình thức khác như ngựa trong các con giống đất nung; ngựa trong sáng tạo của các thợ nặn bột, ngựa giấy trong các gian hàng mã, ngựa trong tranh dân gian Đông Hồ, làng Trống,...

Ngựa trong đời sống người Việt

Con ngựa gắn bó với đời sống con người hàng nghìn năm. Nếu như trong văn hóa, ngựa mang dấu ấn khá phong phú và tích cực, thì trong thực tiễn, ngựa cũng cực kỳ hữu ích, gần gũi đối với con người và được sử dụng vào nhiều công việc khác nhau. Từ rất sớm, ngựa đã được con người sử dụng trong săn bắn, thông tin liên lạc; về sau phổ biến trong các công việc kéo, chở, thồ hàng, cày ruộng và nhiều hoạt động sản xuất khác. Ngựa ngày càng được sử dụng đa dạng trong cả hoạt động thể thao lẫn nghệ thuật. Trong lịch sử, ngựa là phương tiện cơ động quan trọng, theo bước các vị anh hùng dân tộc như Lý Thường Kiệt, Lê Lợi,… góp phần làm nên những chiến công hiển hách trong công cuộc dựng nước và giữ nước. Hình ảnh ngựa chiến, ngựa sứ giả đã trở thành biểu tượng của tốc độ, của sự quả cảm và tinh thần vượt khó. Trong Đại Việt sử ký toàn thư có viết: “Hồi bắt đầu thời vua Thái Tông bản triều, ngày 15 tháng giêng, nhà vua ngự ra xem trăm quan hội thề, tấu cáo trời, ngựa, quỷ thần, núi cao, sông lớn, giết ngựa tráng làm lễ ăn thề” (6). “Máu ngựa, các thức ăn bằng thịt ngựa đã tăng sức mạnh, hâm thêm bầu máu nóng cho người ăn thề” (7).

Bên cạnh giá trị biểu trưng, ngựa còn gắn bó chặt chẽ với đời sống con người ở phương diện thực tiễn. Trong quan niệm dân gian, nhiều bộ phận của ngựa được sử dụng làm thực phẩm và gắn với những công dụng nhất định đối với sức khoẻ. Thịt ngựa được xem là giàu dinh dưỡng, góp phần bồi bổ thể lực; sữa ngựa có vị thanh, dễ uống, được sử dụng trong một số kinh nghiệm chăm sóc sức khoẻ truyền thống. Ở góc độ hiện đại, một số chế phẩm y dược cũng được nghiên cứu và điều chế từ nguồn nguyên liệu có nguồn gốc từ ngựa, cho thấy sự hiện diện của loài vật này không chỉ trong đời sống tinh thần mà còn trong thực hành đời sống của con người.

Trong so sánh văn hoá khu vực, hình tượng ngựa ở Việt Nam mang những sắc thái riêng. Nếu ở Trung Quốc, ngựa thường gắn với không gian chiến tranh và sức mạnh quân sự, thì trong văn hoá Việt Nam, ngựa chủ yếu xuất hiện như một thành tố trong quần thể sinh động của thế giới động vật – bên cạnh voi, hươu… – và gắn nhiều với không gian tín ngưỡng, lăng tẩm, chùa chiền, như hình ảnh vật hầu của những bậc có công. Vì vậy, ngựa thường được cảm nhận như biểu tượng của sự tốt lành và tinh thần cộng đồng. Tuy nhiên, trong đời sống ngôn ngữ thường ngày, người Việt cũng khai thác những sắc thái đối lập của hình tượng này qua các cách nói như “thân trâu ngựa”, “mồm chó vó ngựa”, hay “long nhong ngựa ông đã về”, phản ánh cái nhìn đa chiều, linh hoạt của văn hoá dân gian.

Trong bối cảnh hiện nay, những giá trị biểu trưng của hình tượng ngựa vẫn còn nguyên sức sống, đó là tinh thần năng động, dám bứt phá, bền bỉ và không ngừng vươn lên trước khó khăn. Trên hành trình phát triển mới, khi đất nước đứng trước yêu cầu đổi mới mạnh mẽ, những phẩm chất tốt đẹp ấy càng cần được khơi dậy và phát huy. Bước sang năm Bính Ngọ 2026, hình ảnh vó ngựa hướng về phía trước gửi gắm niềm tin vào một năm mới hanh thông, chuyển động tích cực và phát triển bền vững. Mỗi người Việt Nam hôm nay, bằng việc gìn giữ giá trị văn hoá truyền thống và nuôi dưỡng tinh thần đổi mới, sáng tạo, sẽ góp phần làm cho bản sắc dân tộc vừa bền vững trong cội rễ, vừa năng động trong dòng chảy của thời đại.

Tài liệu tham khảo

(1), (3), (4) TS. Phạm Thanh Tịnh: 12 con giáp trong văn hoá của người Việt,  NXB Văn hoá thông tin, Thành phố Hồ Chí Minh, Hà Nội, 2013.

(2)  Chu Quang Trứ: Mỹ thuật Lý-Trần, mỹ thuật Phật giáo, NXB Mỹ thuật, Hà Nội, 2001.

(5)Trần Lâm Biền: Chùa Việt, NXB Văn hoá thông tin, Hà Nội, 1996.

(6), (7) TS. Đinh Công Vĩ: Chuyện lạ về 12 con giáp – Nhìn từ góc độ văn hoá tâm linh Đông phương, NXB Đà Nẵng, Trung tâm văn hoá Tràng An, Đà Nẵng, 2011.