Cách đây 81 năm, chính sách vơ vét của phát xít Nhật - Pháp đã gây ra nạn đói năm 1945, cướp đi sinh mạng của hàng triệu đồng bào. Sự kiện đó là một trong những ký ức đau buồn nhất trong lịch sử, là minh chứng không thể chối cãi cho tội ác của phát xít-thực dân đối với dân ta, đồng thời cũng để lại nhiều bài học sâu sắc về con đường phát triển của dân tộc
Nạn đói năm 1945 – ký ức đau thương
Ngay sau cuộc chiến tranh thế giới thứ hai bùng nổ (1939), quân phiệt Nhật nhân danh chiêu bài “Giải phóng Đại Đông Á” đưa quân chiếm đóng các nước Đông Nam Á, biến các nước này trở thành vùng cung cấp nguyên liệu, nhiên liệu, lương thực để phục vụ việc mở rộng chiến tranh của chúng.
Tại Đông Dương, phát xít Nhật bắt tay với thực dân Pháp thi hành nhiều chính sách phản động về chính trị kết hợp với chính sách kinh tế thời chiến, vơ vét đến cạn kiệt tài lực, vật lực của nhân dân ta để phục vụ chiến tranh.
Với chính sách “thu mua thóc tạ” theo kiểu “mua như cướp, bán như cho”; chính sách “phá lúa trồng đay”; nạn đầu cơ của bọn tay sai; thêm vào đó hạn hán, lũ lụt gây mất mùa và hệ thống cung cấp lương thực từ miền Nam ra Bắc bị đứt gãy do chiến tranh, đã làm cho nạn đói ở nước ta (1944-1945) diễn ra hết sức nghiêm trọng. Việc vận chuyển lương thực gặp nhiều khó khăn, khiến cho có những vùng dư thừa lương thực, ngược lại nhiều vùng khác trên đất nước ta thiếu lương thực trầm trọng, đồng bào ta chết đói hàng loạt.
Hệ quả của những chính sách đó đã gây ra nạn đói cuối năm 1944 đầu năm 1945 ở Bắc Kỳ và Bắc Trung Kỳ làm cho hàng triệu đồng bào ta chết đói.
Chỉ tính riêng 4 tỉnh Nam Định, Hà Nam, Ninh Bình và Thái Bình đã có hơn nửa triệu người chết đói. Một dòng họ Tô ở Tiền Hải (Thái Bình) có 35 người thì chỉ còn sống 4 người…Riêng một làng Thượng Cẩm, thuộc phủ Thái Ninh, tỉnh Nam Định, có 900 suất đinh thì chết chỉ còn 400, và tính cả nam, phụ, lão, ấu thì trong làng ngót 4.000 người, chết đói mất 2.000 người…[i].

Người thiếu đói tập trung tại Hà Nội chờ được phát gạo cứu đói (Ảnh tư liệu)
Do hoàn cảnh lịch sử phức tạp, chiến tranh và thiếu hệ thống thống kê đồng bộ tại thời điểm đó, số lượng nạn nhân thiệt mạng được ghi nhận với nhiều mức chênh lệch khác nhau qua các nguồn tài liệu và công trình nghiên cứu.
Tháng 5/1945, Tòa khâm sai tại Hà Nội lệnh cho các tỉnh miền Bắc phúc trình tổn thất. Tổng hợp từ báo cáo của 20 tỉnh cho ra con số khoảng 400.000 người chết vì đói và bệnh tật.
Đại sứ quán Mỹ tại Trùng Khánh trong Báo cáo Pentagon gửi Bộ Ngoại giao Mỹ cho biết có khoảng 2.000.000 người Việt Nam chết đói trong mùa Đông 1944 và mùa Xuân 1945.
Trong bản Tuyên ngôn Độc lập ngày 02/09/1945 và các phát biểu sau đó, Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định từ Quảng Trị đến Bắc Kỳ có hơn 2.000.000 đồng bào bị chết đói.
Gần đâynhất, theo kết quả điều tra thực tế của Giáo sư Văn Tạo và Giáo sư Furuta Motoo trong công trình nghiên cứu hợp tác Việt - Nhật “Nạn đói năm 1945 ở Việt Nam - Những chứng tích lịch sử”, các nhà khoa học đã khảo sát chi tiết từng địa phương.
Kết quả chỉ ra riêng tỉnh Thái Bình có khoảng 280.000 người chết; Nam Định và Thái Bình cộng lại là hơn 210.000 người; Ninh Bình 38.000 người; Hà Nam 50.000 người.
Tổng hợp dữ liệu thực địa khẳng định con số khoảng 2.000.000 người chết đói trên toàn khu vực Bắc Bộ và Bắc Trung Bộ bị ảnh hưởng là sát với thực tế nhất.
Con số hơn 2 triệu người cướp đi khoảng 1/10 dân số cả nước lúc bấy giờ, biến nạn đói Ất Dậu thành một trong những thảm họa nhân đạo tàn khốc nhất lịch sử Việt Nam hiện đại. Nạn chết đói cuối năm 1944 đầu năm 1945 là tai họa khủng khiếp nhất, là “một vết tích ghi thành di hận nghìn đời không quên được tội ác của giặc thực dân Pháp - Nhật”[ii] đối với dân tộc ta.
Bài học lịch sử
Hiện nay, trước bối cảnh tình hình thế giới đang diễn ra hết sức phức tạp chiến tranh – xung đột, biến đổi khí hậu, diện tích đất nông nghiệp bị thu hẹp, suy thoái kinh tế, giá lương thực ngày càng tăng cao … gây nên tình trạng thiếu hụt hoặc khó tiếp cận nguồn lương thực dẫn đến tình trạng thiếu đói cục bộ ở nhiều nơi thế thế giới.
Theo số liệu của Tổ chức Lương thực thế giới (FAO): “Trong năm 2024, khoảng 295,3 triệu người tại 53 trong số 65 quốc gia được phân tích phải sống trong tình trạng mất an ninh lương thực ở “mức độ nghiêm trọng cao”[iii]. Điều này đặt ra thách thức lớn đối với các nước trên thế giới trong đó có Việt Nam về tầm quan trọng của an ninh lương thực.
Dù đã trải qua 81 năm nhưng nạn đói khủng khiếp từ Quảng Trị trở ra Bắc cuối năm 1944 đầu năm 1945 vẫn để lại một nỗi đau lớn khó nguôi ngoai, là bằng chứng cho tội ác của thực dân, quân phiệt đối với dân tộc Việt Nam.

Những tấm thân chỉ còn da bọc xương của nạn nhân trong cơn đói năm 1945 (Ảnh tư liệu)
Thảm kịch đó đã để lại cho chúng ta những bài học sâu sắc trong quá trình xây dựng và bảo vệ Tổ quốc mà mỗi thế hệ người Việt Nam sau này phải luôn ghi nhớ, đó là:
Thứ nhất, bảo đảm an ninh lương thực là vấn đề sống còn của dân tộc. Bảo đảm an ninh lương thực không chỉ quyết định sức khỏe, sinh mạng của mỗi con người mà còn là nhân tố cốt lõi bảo đảm an ninh chính trị, ổn định xã hội và phát triển kinh tế bền vững của quốc gia. Không phải ngẫu nhiên mà Chủ tịch Hồ Chí Minh đã coi đói nghèo là một loại “giặc” nguy hiểm cần phải tiêu diệt cùng với “giặc dốt” và “giặc ngoại xâm”. Vì vậy, thúc đẩy phát triển sản xuất lương thực là nhiệm vụ chiến lược, mang tính sống còn đối với sự trường tồn và thịnh vượng của dân tộc.
Thứ hai, tinh thần đoàn kết, nhân ái của dân tộc. Trước tình cảnh nạn đói diễn ra hết sức nghiêm trọng, với tinh thần “thương người như thể thương thân”, “lá lành đùm lá rách”, quần chúng nhân dân từ mọi miền Tổ Quốc đã hưởng ứng phong trào “phá kho thóc giải thoát nạn đói”. Đồng thời sau ngày độc lập cuộc vận động tổ chức lạc quyên, tổ chức “ngày đồng tâm” nhịn ăn, lập “hũ gạo cứu đói” đã trở thành một phong trào rộng lớn được mọi tầng lớp nhân dân hết sức ủng hộ. Chính tinh thần đoàn kết, nhân ái của nhân dân đã giúp Đảng và Chính phủ ta không chỉ cơ bản giải quyết được nạn đói mà còn có thêm nguồn lực để chuẩn bị cho cuộc kháng chiến trường kỳ của dân tộc trước thực dân Pháp quay trở lại xâm lược.
Thứ ba, thôi thúc khát vọng hòa bình, độc lập, tự chủ, tự lực, tự cường của dân tộc. Nạn đói năm 1945 là lời cảnh tỉnh đến đau lòng về tình cảnh mất độc lập, bị lệ thuộc vào ngoại bang. Đó là lời nhắc nhở chúng ta rằng: chỉ có độc lập dân tộc, tự chủ, tự lực, tự cường, chủ động phát triển kinh tế, bảo đảm lương thực thì mới có thể bảo vệ sự sống còn của nhân dân và đất nước.
Thực tế đã chứng minh, khi được sống trong một đất nước độc lập, hòa bình cùng với tinh thần tự lực, tự cường, nhân dân ta đã đưa Việt Nam từ một nước thiếu đói, phải nhập khẩu gạo đến nay Việt Nam không chỉ tự đáp ứng nhu cầu trong nước mà còn vươn lên thành nước có sản lượng xuất khẩu gạo đứng thứ hai thế giới và góp phần vào ổn định an ninh lương thực toàn cầu.
Thứ tư, nổi bật lên vai trò lãnh đạo của Đảng. Trước sự sống còn của dân tộc, Đảng ta đã phát động phong trào “Phá kho thóc, giải quyết nạn đói”, kêu gọi nhân dân đứng lên chống thu thóc, đồng thời phát động quần chúng đoàn kết cùng phá kho thóc của Nhật, chia cho dân nghèo, lôi cuốn hàng triệu đồng bào tham gia với nhiều hình thức khác nhau. Phong trào “Phá kho thóc, giải quyết nạn đói” không chỉ giải quyết một phần nạn đói mà còn thể hiện trách nhiệm của Đảng ta trước sự sống còn của nhân dân, là sự minh chứng cho khát vọng sống, khát vọng độc lập, tự do, ấm no, hạnh phúc cho nhân dân mà Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn hướng đến.
[i] Xem: Văn Tạo – Furuta Motoo (Chủ biên): Nạn đói năm 1945 ở Việt Nam – Những chứng tích lịch sử, Nxb. Chính trị quốc gia - Sự thật, Hà Nội, 2016, tr. 12 và 19.
[ii] Báo Cứu quốc, số 134.
[iii] Báo Công An nhân dân, Chiến tranh, nạn đói và lương tri, địa chỉ truy cập: https://cand.com.vn/chuyen-de/chien-tranh-nan-doi-va-luong-tri-i769565/
