Cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp 1945-1954 không chỉ là chuỗi chiến thắng từ Việt Bắc, Biên Giới, Hòa Bình tới Điện Biên Phủ, mà còn có những chiến dịch, trận đánh không đạt mục tiêu đề ra. Chính từ những hạn chế, tổn thất ấy, Quân đội ta từng bước trưởng thành về tổ chức, chiến thuật, nghệ thuật chiến dịch, để đi tới thắng lợi cuối cùng
Kháng chiến chống Pháp (1945-1954) là cuộc kháng chiến toàn dân, toàn diện, trường kỳ, dựa vào sức mình là chính. Quân đội nhân dân Việt Nam được xây dựng từ lực lượng du kích, vũ khí thô sơ, từng bước xây dựng bộ đội chủ lực, từ các chiến dịch phản công đến các chiến dịch tiến công, từ những trận đánh nhỏ lẻ tiến lên các chiến dịch tác chiến tập trung, quy mô lớn.
Trong tiến trình ấy, có giai đoạn ta chưa đánh giá đúng tương quan lực lượng, hoặc vận dụng mô hình chiến tranh quy ước cồng kềnh khi điều kiện chưa cho phép, dẫn tới tổn thất hoặc không đạt mục tiêu chiến dịch.
Sau này, Đảng và quân đội ta đều coi đó là bài học lớn về đường lối chiến tranh nhân dân, nghệ thuật chiến dịch và tổ chức lực lượng.
Một số chiến dịch, trận đánh không thành công tiêu biểu
Các chiến dịch tiến công ở đồng bằng, trung du Bắc Bộ năm 1950-1951
Sau thắng lợi của chiến dịch phản công Việt Bắc Thu-Đông cuối năm 1947 và chiến dịch Biên Giới 1950, quân đội ta có được phần nào sự chủ động trên chiến trường, thế trận được mở rộng, có viện trợ từ bạn bè quốc tế.
Chính vì thế, Bộ Tổng Tư lệnh chủ trương chuyển mạnh hơn sang đánh vận động, tập trung lực lượng, đưa chiến tranh vào đồng bằng Bắc Bộ - nơi Pháp có hệ thống đồn bốt dày đặc, quân cơ động mạnh, hỏa lực mạnh, có không quân, pháo binh chi viện.
Các chiến dịch tiến công này có thể nhắc đến Chiến dịch Trần Hưng Đạo (Chiến dịch Trung du) (từ ngày 25/12/1950 đến ngày 17/01/1951) tiến công địch trên địa bàn phía đông Việt Trì, Vĩnh Yên, Phúc Yên đến tây sông Cầu; chiến dịch Hoàng Hoa Thám (Chiến dịch Đường 18) (từ ngày 20/3 đến ngày 07/4/1951) trên địa bàn đông bắc đồng bằng Bắc Bộ, theo trục đường số 18 từ Phả Lại, qua Đông Triều, Uông Bí, Quảng Yên lên đến Hòn Gai; chiến dịch Quang Trung (từ ngày 28/5 đến ngày 20/6/1951) tiến công địch trên địa bàn các tỉnh Hà Nam, Nam Định, Ninh Bình.

Chiến dịch Trần Hưng Đạo là một trong ba chiến dịch lớn đầu tiên của Quân đội Quốc gia Việt Nam sau thắng lợi Chiến dịch Biên Giới Thu Đông 1950.
Sau khi mở toang biên giới, quân đội ta đã nhận được viện trợ quân sự lớn từ các nước xã hội chủ nghĩa qua ngả Trung Quốc, tạo điều kiện củng cố lực lượng chủ lực là các Đại đoàn 308, 312.
Trong khi đó, từ sau thất bại trong chiến dịch Biên Giới, thực dân Pháp tăng cường phòng thủ, cử Đại tướng Jean de Lattre de Tassigny làm Tổng chỉ huy, với kế hoạch xây dựng Phòng tuyến Tassigny (bao gồm hơn 800 lô cốt) bao quanh Đồng bằng và Trung du Bắc Bộ để cô lập Việt Bắc.
Bộ Chính trị nhận định cần tận dụng thời cơ khi Pháp còn đang trong giai đoạn củng cố phòng tuyến mới để mở cuộc tiến công lớn, phá kế hoạch bình định của chúng.
Mục tiêu chính của quân đội ta trong chiến dịch này là tiêu diệt sinh lực địch trên tuyến phòng thủ Trung du (từ Việt Trì đến Bắc Giang), tạo sức ép, buộc Pháp phải điều động lực lượng từ đồng bằng lên ứng cứu, từ đó đẩy mạnh chiến tranh du kích ở khu vực sau lưng địch.
Mặc dù qua các chiến dịch này, ta tiêu diệt được một bộ phận sinh lực địch, gây tổn thất cho hệ thống đồn bốt, nhưng không phá được thế phòng ngự đồng bằng, không giành thế chủ động chiến lược tại đây.
Tổn thất của ta tương đối lớn; không đạt mục tiêu kỳ vọng là “bứt phá chiến lược” ở đồng bằng.
Chiến dịch giành được thắng lợi cục bộ (phá được vòng vây ở Vĩnh Yên trong đợt 1), nhưng về tổng thể, chiến dịch không đạt được mục tiêu chiến lược là phá vỡ tuyến phòng ngự của Pháp và gây tổn thất lớn như dự kiến, chủ yếu do những hạn chế trong việc tổ chức binh lực và áp dụng cách đánh.
Sai lầm lớn nhất của ta trong chiến dịch này thể hiện ở việc áp dụng phương thức “đánh tập trung” và công kiên. Đây là sai lầm lớn nhất, xuất phát từ kinh nghiệm đánh các cứ điểm lẻ tẻ hoặc các trận đánh quy mô nhỏ trước đó.
Chiến dịch sử dụng lực lượng chủ lực cơ giới hóa lớn (hai đại đoàn) để đánh vào hệ thống công sự kiên cố (Phòng tuyến Tassigny) được tăng cường hỏa lực mạnh của Pháp (đặc biệt là pháo binh và không quân).
Khi đối diện với các cụm cứ điểm lớn như thị xã Vĩnh Yên, bộ đội ta đã tập trung lực lượng lớn tấn công trực diện. Tuy nhiên, bộ đội ta lúc này chưa có kinh nghiệm trong việc che giấu và cơ động lực lượng lớn dưới sự giám sát của không quân trinh sát địch; chưa có kinh nghiệm chống trả hiệu quả trước hỏa lực áp đảo, đặc biệt là việc sử dụng bom Napalm lần đầu tiên (trận Vĩnh Yên), gây thương vong rất lớn khi bộ đội chưa có cách đối phó phù hợp (nhảy xuống nước ngâm mình rồi lại bốc cháy khi lên bờ).
Mục tiêu không phù hợp với binh lực của ta. Quyết định đặt mục tiêu giải phóng thị xã Vĩnh Yên (một mục tiêu được Pháp tập trung bảo vệ) đã khiến bộ đội ta phải đối đầu trực diện với ưu thế hỏa lực và binh đoàn cơ động tinh nhuệ của De Lattre de Tassigny, thay vì tập trung tiêu diệt lực lượng cơ động như dự kiến ban đầu.
Những hạn chế về cơ động và hiệp đồng binh chủng, dù có sự tham gia của các Đại đoàn, sự phối hợp giữa các binh chủng vẫn chưa nhịp nhàng như yêu cầu của một chiến dịch lớn.
Ban Thường vụ Trung ương xác định mục tiêu trước hết là trung du, nhưng việc phân bổ lực lượng để tạo sức ép trên nhiều hướng (Vĩnh Phúc, Hải Ninh, Liên khu III...) đã dẫn đến sự phân tán, không tạo được ưu thế tuyệt đối tại hướng chủ yếu (Vĩnh Phúc).
Sau thắng lợi ở Vĩnh Phúc (đợt 1), Bộ Chỉ huy chiến dịch đã quyết định đặt mục tiêu giải phóng Vĩnh Yên. Tuy nhiên, việc “cơ hội đã bị bỏ qua” khi không kịp thời điều động lực lượng tấn công ngay sau khi phát hiện địch lúng túng do sự phân tán lực lượng, tạo điều kiện cho Pháp tổ chức phản công quyết liệt bảo vệ Vĩnh Yên.
Ngoài ra, ta có hạn chế về công tác tình báo và bí mật, nhất là hoạt động nghi binh. Kinh nghiệm nghi binh chưa đạt được hiệu quả cao như các chiến dịch sau này.
Pháp đoán trước hướng tiến công, kịp thời tập trung đối phó tại các điểm bị tấn công (như Vĩnh Yên) và xây dựng phòng tuyến, cho thấy công tác giữ bí mật và nghi binh chưa đủ sức đánh lừa hướng chủ yếu của Pháp.
Do chiến dịch diễn ra trên vùng bị Pháp kiểm soát chặt chẽ Trung du, bộ đội ta không thể che giấu việc tập trung lực lượng và chuẩn bị sẵn sàng như ở Việt Bắc hay Tây Bắc.
Chiến dịch Trần Hưng Đạo được đánh giá là một “thắng lợi không trọn vẹn” hay một “thất bại cần thiết”.
Thành công có tính chất cục bộ là ta đã phá vỡ được một phần hệ thống đồn bốt, tiêu diệt được một số sinh lực địch (khoảng 5.000 quân địch bị loại khỏi vòng chiến đấu), củng cố được cơ sở du kích ở vùng du kích cũ.
Hạn chế chiến lược của chiến dịch là ta không phá vỡ được Phòng tuyến Tassigny (tuyến phòng ngự chủ yếu), không gây được chuyển biến lớn có lợi về chiến lược trên chiến trường chính Bắc Bộ.
Ý nghĩa quan trọng nhất của chiến dịch này chính là những bài học kinh nghiệm mà nó mang lại. Đó là phải tránh đối đầu trực diện với hỏa lực áp đảo (không quân, pháo binh) trên địa hình trống trải. Nâng cao kỹ năng bảo đảm cho lực lượng cơ động lớn trước các loại vũ khí mới, có sức sát thương cao của địch (như bom Napalm).
Nguyên nhân không thành công trọn vẹn, không đạt mục tiêu của của các chiến dịch sau này được xác định là do ta chưa nắm vững đặc điểm chiến trường đồng bằng: địch có hệ thống đồn bốt, đường chiến lược, xe cơ giới, máy bay; ta khó giấu quân, khó cơ động bí mật. Tổ chức binh lực còn nặng theo kiểu “đánh quy ước”, mật độ tập trung đông trên địa hình trống trải, dễ bị hỏa lực địch sát thương. Tình báo, trinh sát, hiệp đồng binh chủng còn hạn chế; hậu cần khó khăn trong điều kiện bị kiểm soát gắt gao.
Đồng bằng Bắc Bộ là nơi Pháp tập trung 54 % tổng số lực lượng bộ binh và lính dù, 50 % lực lượng pháo binh, 42 % lực lượng cơ giới thiết giáp, 71 % lực lượng công binh, 40 % lực lượng vận tải, đồng thời có hệ thống “boong ke” và “vành đai trắng” bảo vệ. Bộ đội ta chưa quen với tác chiến đồng bằng và đối mặt với lực lượng địch rất mạnh như vậy, nên việc không đạt mục tiêu là dễ hiểu.
Các chiến dịch tiến công trung du, đồng bằng không thành công, tiêu biểu là chiến dịch Hoàng Hoa Thám, giúp ta rút ra nhận thức: không thể lấy “chiến tranh trận địa kiểu Âu - Mỹ” áp vào điều kiện Việt Nam, phải kiên trì chiến tranh nhân dân, phân tán - tập trung một cách linh hoạt, phải dụ địch lên chiến trường rừng núi, nơi ta phát huy được sở trường, chiến thuật đánh du kích, tập kích, phục kích.
Trung ương Đảng và Bộ Tổng Tư lệnh đã nghiêm túc kiểm điểm, chỉ rõ sai lầm, khuyết điểm. “Có nhiều nguyên nhân, song điều chủ yếu là do ta chủ quan, đánh giá không đúng tình hình so sánh lực lượng địch, ta ở địa bàn chiến lược này; ta chọn hướng tiến công chiến lược ở nơi địch có khả năng phát huy hiệu lực của các loại binh khí kỹ thuật hiện đại là hỏa lực mạnh và cơ động nhanh chóng của chúng. Như vậy là chưa phù hợp với đặc điểm về địch và ta lúc đó”[1]. Ta tiến hành liên tục ba chiến dịch, chưa kịp khắc phục những tổn thất trong chiến dịch trước đã mở chiến dịch sau. Trong khi đó, binh khí kỹ thuật và trình độ tác chiến của bộ đội còn nhiều hạn chế. Đó là biểu hiện của tư tưởng “Đánh nhanh giải quyết nhanh”, không quán triệt đầy đủ quan điểm “Trường kỳ kháng chiến, tự lực cánh sinh”.
Qua các chiến dịch này, quân đội ta dần dần xây dựng và hoàn thiện nghệ thuật “buộc địch phải lên rừng, lên biên giới để ta đánh bằng sở trường”, dẫn tới cách chọn hướng chiến lược Tây Bắc - Thượng Lào - Điện Biên Phủ những năm 1953-1954 và chiến trường Điện Biên Phủ.

Xe tăng M24 Chaffee của quân Pháp trên đường từ Đông Triều tiến về Mạo Khê bị quân ta đánh hỏng trong Chiến dịch Hoàng Hoa Thám (Ảnh tư liệu)
Chiến dịch Nà Sản - cuộc tiến công chưa thành công trên quy mô chiến dịch
Năm 1952, sau Chiến dịch Tây Bắc, Pháp xây dựng tập đoàn cứ điểm Nà Sản ở Sơn La, theo mô hình “con nhím phòng ngự” (hệ thống cứ điểm liên hoàn, hỏa lực tập trung, có pháo binh và không quân chi viện ở mức cao nhất).
Sau một số chiến dịch ở vùng rừng núi và đồng bằng, bộ đội ta quyết định tiến công, coi đây là bước thử nghiệm đánh vào một tập đoàn cứ điểm mạnh của Pháp.
Trong chiến dịch Nà Sản, ta triển khai lực lượng lớn, chủ yếu là bộ binh, pháo binh cơ giới còn hạn chế, địa hình bị khống chế mạnh bởi hỏa lực địch.
Ngày 23/11/1952, chiến dịch mở màn, bộ đội ta đã đánh chiếm, tiêu diệt một số cứ điểm vòng ngoài, gây cho Pháp thiệt hại đáng kể.
Tuy nhiên, ở các điểm then chốt, ta không tạo được thế bao vây hoàn toàn, hỏa lực pháo binh, không quân Pháp từ trong và ngoài tập đoàn cứ điểm chi viện mạnh.
Ngày 04/12/1952, bộ đội ta rút quân, chiến dịch kết thúc.
Kết thúc chiến dịch Nà Sản, ta giành một số thắng lợi cục bộ, diệt được một bộ phận quân địch, nhưng không tiêu diệt hoặc bức rút được tập đoàn cứ điểm Nà Sản - mục tiêu chiến dịch không đạt trọn vẹn.
Pháp giữ được Nà Sản, coi đây là “mô hình mẫu” cho việc xây dựng tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ.
Từ chiến dịch Nà Sản, quân đội ta đã đúc kết được những kinh nghiệm xương máu trong việc tiến công, tiêu diệt các tập đoàn cứ điểm ở vùng rừng núi: Muốn tiêu diệt tập đoàn cứ điểm, phải tuyệt đối làm chủ các điểm cao xung quanh, bố trí pháo binh trên cao bắn thẳng xuống thung lũng. Cần chuẩn bị kỹ về công sự, hào giao thông, hỏa lực, hậu cần, đánh dài ngày, vây lỏng - siết chặt dần, không sử dụng phương thức “đánh nhanh, thắng nhanh”.
Chính từ kinh nghiệm Nà Sản, ta điều chỉnh phương châm tiến công Điện Biên Phủ, từ phương châm “đánh nhanh, thắng nhanh” sang “đánh chắc, tiến chắc”, dời ngày nổ súng, xây dựng hệ thống trận địa bao vây liên hoàn, tiêu diệt dần các cứ điểm của địch.
Ngoài các chiến dịch trên, trong kháng chiến chống Pháp, còn nhiều trận công đồn, đánh cứ điểm, phục kích mà bộ đội ta tiêu diệt được một phần lực lượng địch nhưng không chiếm được mục tiêu, hoặc bị lộ lực lượng, hỏa lực địch khống chế, buộc phải rút lui, chịu tổn thất.
Nguyên nhân không đạt mục tiêu trận đánh thường là do công tác trinh sát - tình báo - nắm địch chưa sát, chưa chính xác nên khi triển khai phương án chiến đấu thường bị bất ngờ. Với một số trận đánh, việc lựa chọn thời cơ, hướng tiến công, cách đánh phù hợp tương quan lực lượng của ta và của địch còn chưa sát. Năng lực hiệp đồng giữa bộ binh - pháo binh - công binh, bảo đảm hậu cần chưa tốt.
Tác động của những chiến dịch, những trận đánh không thành công đối với sự trưởng thành của quân đội ta
Các chiến dịch chưa thành công giúp quân đội ta điều chỉnh hợp lý về chiến lược, chiến dịch, nghệ thuật quân sự cho các chiến dịch và trận đánh sau này.
Về chiến lược: khảng định tính đúng đắn, khoa học của đường lối kháng chiến lâu dài, toàn dân, toàn diện, đặc biệt không nóng vội tìm “trận quyết chiến sớm” trong điều kiện chưa chín muồi, ở những địa hình, địa vật mà địch thì phát huy được hỏa lực, tính cơ động, ta sớm gặp bất lợi trong triển khai chiến đấu.
Về nghệ thuật chiến dịch, các chiến dịch và trận đánh không thành công góp phần hình thành tư duy “tiến công trong phản công”, “vây điểm, diệt viện”, “lấy rừng núi bao vây đồng bằng”, xây dựng thế trận chiến tranh nhân dân rộng khắp.
Về xây dựng quân đội, từ lực lượng Vệ quốc đoàn ban đầu, qua từng chiến dịch thắng - bại, Quân đội Quốc gia Việt Nam trưởng thành nhanh chóng, xây dựng lực lượng vũ trang ba thứ quân: bộ đội chủ lực, bộ đội địa phương, dân quân du kích, xây dựng hệ thống Đảng ủy - chính ủy hoàn chỉnh, đủ sức thực hiện Chiến cuộc Đông - Xuân 1953-1954 và Chiến dịch Điện Biên Phủ.
Có thể nói, nếu không có những chiến dịch không thành công và tổn thất đắt giá trước đó, sẽ không có nghệ thuật quân sự Việt Nam.
Những chiến dịch không thành công của quân đội ta trong kháng chiến chống Pháp chủ yếu rơi vào giai đoạn thử sức đánh lớn, đánh tập trung, khi ta còn đang tìm tòi con đường tác chiến phù hợp trước một đối thủ mạnh hơn hẳn về trang bị. Dù không đạt mục tiêu, chúng trở thành bài học xương máu, góp phần xây dựng và hoàn thiện đường lối chiến tranh nhân dân, dẫn tới thắng lợi cuối cùng của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp.
[1] Ban Chỉ đạo tổng kết chiến tranh trực thuộc Bộ Chính trị: Tổng kết cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp – Thắng lợi và bài học, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, tr. 178.
