Trong tiến trình chuyển từ sản xuất nông nghiệp sang phát triển kinh tế nông nghiệp, công nghệ cao và chuyển đổi số đang mở ra động lực phát triển mới cho Quảng Ngãi. Vấn đề không chỉ là ứng dụng công nghệ, mà quan trọng hơn là tổ chức lại sản xuất, tái cấu trúc chuỗi giá trị theo hướng hiện đại, xanh và bền vững.

Từ ứng dụng công nghệ cao trong nông nghiệp

 Trong bối cảnh cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư đang phát triển mạnh mẽ, việc ứng dụng khoa học - công nghệ và chuyển đổi số nhằm nâng cao hiệu quả tái cơ cấu ngành nông nghiệp đang trở thành xu hướng chung của nền nông nghiệp nước ta. Đối với Quảng Ngãi, đây vừa là yêu cầu của quá trình hiện đại hóa sản xuất, vừa là hướng đi nhằm chuyển nền nông nghiệp từ sản xuất nhỏ lẻ sang phát triển kinh tế nông nghiệp theo hướng hàng hóa, hiện đại và bền vững.

Một trong những kết quả nổi bật của việc ứng dụng công nghệ cao vào sản xuất nông nghiệp tại Quảng Ngãi thời gian qua là diện tích cây trồng ứng dụng công nghệ cao đạt 27.277,2 ha/197.993,8 hatổng diện tích gieo trồng, trong đó 2.506,6 ha được sản xuất theo các tiêu chuẩn chất lượng được chứng nhận[1]. Tỷ trọng giá trị sản xuất nông nghiệp hữu cơ, ứng dụng công nghệ cao đạt khoảng 29,85% trong tổng giá trị sản xuất nông nghiệp[2]. Tỉnh cũng đã hình thành một số vùng sản xuất tập trung quy mô lớn, từng bước tạo nền tảng cho việc phát triển các vùng nguyên liệu ổn định gắn với chế biến và tiêu thụ.

Cùng với trồng trọt, công nghệ cao cũng được tỉnh đưa vào chăn nuôi, lâm nghiệp và sản xuất dược liệu. Nhiều cơ sở chăn nuôi đã áp dụng kỹ thuật tiên tiến; trong lĩnh vực lâm nghiệp, công nghệ GIS, viễn thám và hệ thống định vị GPS được sử dụng trong theo dõi diễn biến rừng và tuần tra bảo vệ rừng. Đối với cây dược liệu, một số kỹ thuật như sản xuất trong nhà màng, nhân giống bằng phương pháp nuôi cấy mô tế bào thực vật và tưới tự động đã được ứng dụng.

Những kết quả trên cho thấy ứng dụng công nghệ cao đang từng bước thay đổi phương thức sản xuất nông nghiệp. Công nghệ không còn chỉ được nhìn nhận như một yếu tố hỗ trợ mà ngày càng trở thành một bộ phận của quá trình tổ chức sản xuất, kiểm soát chất lượng và nâng cao giá trị nông sản.

Đến chuyển đổi số nông nghiệp

Nếu công nghệ cao tác động trực tiếp đến quá trình sản xuất thì chuyển đổi số lại là công cụ giúp mở rộng không gian phát triển của nông nghiệp, từ quản lý sản xuất đến kết nối thị trường tiêu thụ. Những năm qua, Quảng Ngãi đã quan tâm cập nhật dữ liệu về sản xuất nông, lâm nghiệp; vận hành hệ thống cơ sở dữ liệu quản lý rừng; sử dụng các phần mềm quản lý công trình nước sạch nông thôn, vùng nguyên liệu và các lĩnh vực chuyên ngành khác. Đây là bước chuyển từ phương thức quản lý dựa nhiều vào thông tin phân tán sang quản lý dựa trên dữ liệu.

Đáng chú ý, người dân đã từng bước thực hiện chuyển đổi số trong sản xuất. Toàn khu vực phía Tây tỉnh Quảng Ngãi có 116.656 hộ sản xuất nông nghiệp tham gia các sàn thương mại điện tử: http://voso.vn, https://postmart.vn, https://kontumtrade.gov.vn; 143.472 hộ được đào tạo kỹ năng số; 2.651 sản phẩm được đưa lên sàn và ghi nhận 15.383 giao dịch[3]. Các hoạt động livestream bán hàng, quảng bá trên các mạng xã hội như Facebook, TikTok hay đưa sản phẩm lên các sàn thương mại điện tử đã giúp nông sản của tỉnh vượt qua rào cản về khoảng cách địa lý để đến với người tiêu dùng.

Những con số trên cho thấy chuyển đổi số trong nông nghiệp đang vượt ra khỏi phạm vi số hóa hoạt động quản lý nhà nước, từng bước trở thành động lực tái cấu trúc phương thức tổ chức sản xuất, quảng bá và tiêu thụ nông sản trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi. Công nghệ số không chỉ mở rộng khả năng tiếp cận thông tin, tri thức và thị trường của người nông dân, mà còn tạo ra phương thức mới để doanh nghiệp, hợp tác xã xây dựng thương hiệu, kết nối chuỗi giá trị và đưa nông sản địa phương vào các kênh phân phối hiện đại. Qua đó, chuyển đổi số góp phần chuyển dịch từ sản xuất theo kinh nghiệm và tín hiệu thị trường truyền thống sang sản xuất dựa trên dữ liệu, kết nối cung - cầu linh hoạt và nâng cao giá trị gia tăng, sức cạnh tranh của nông sản.

Ảnh: Chính quyền xã Tu Mơ Rông (Quảng Ngãi) thành lập tổ công nghệ số cộng đồng hỗ trợ đồng bào Xơ Đăng livestream bán nông sản để tăng thu nhập, ổn định cuộc sống (Nguồn: Nguyễn Thuấn, Báo VnEconomy)

Ứng dụng công nghệ, tái cấu trúc chuỗi giá trị nông nghiệp

Mặc dù đạt được nhiều kết quả tích cực nhưng công nghệ cao và chuyển đổi số chỉ thực sự trở thành động lực phát triển khi được đặt trong một chuỗi giá trị hoàn chỉnh. Sản xuất có công nghệ nhưng thiếu thị trường; có sản phẩm nhưng thiếu chế biến sâu; có dữ liệu nhưng chưa hình thành được hệ sinh thái dữ liệu phục vụ sản xuất thì sẽ khó tạo ra sự thay đổi căn bản về giá trị nông nghiệp.

Thực tiễn tại tỉnh Quảng Ngãi cho thấy việc huy động nguồn lực đầu tư vào nông nghiệp công nghệ cao vẫn chưa đáp ứng yêu cầu; liên kết sản xuất, chế biến và tiêu thụ theo chuỗi giá trị chưa phổ biến; việc hình thành các vùng nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao còn gặp khó khăn và chuyển đổi số trong nông nghiệp còn hạn chế.

Một nguyên nhân quan trọng là quy mô sản xuất còn nhỏ lẻ, điều kiện kinh tế của một bộ phận người dân còn khó khăn, trong khi chi phí đầu tư khoa học - công nghệ tương đối cao. Bên cạnh đó, năng lực ứng dụng công nghệ của các chủ thể sản xuất và khả năng liên kết giữa hợp tác xã, doanh nghiệp với các tổ chức khoa học chưa thật sự chặt chẽ.

Do đó, vấn đề đặt ra với Quảng Ngãi không phải đơn thuần là “đưa thêm công nghệ vào nông nghiệp”, mà là tổ chức lại quá trình sản xuất trên nền tảng công nghệ, trong đó doanh nghiệp giữ vai trò dẫn dắt chuỗi giá trị, hợp tác xã là nền tảng tổ chức sản xuất, nông dân là chủ thể và Nhà nước giữ vai trò kiến tạo, điều phối. Đây cũng là định hướng được tỉnh xác định trong giai đoạn tới.

Kiến tạo động lực mới cho nông nghiệp Quảng Ngãi

Thực hiện chủ trương “Chuyển mạnh tư duy từ sản xuất nông nghiệp sang phát triển kinh tế nông nghiệp. Khuyến khích phong trào khởi nghiệp trong lĩnh vực nông nghiệp tuần hoàn, nông nghiệp thông minh, nông nghiệp số”[4] của Đại hội Đảng bộ tỉnh Quảng Ngãi lần thứ I, nhiệm kỳ 2025 - 2030, Tỉnh ủy Quảng Ngãi xác định “Khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số là động lực then chốt, thúc đẩy phát triển nông nghiệp công nghệ cao, hữu cơ, tuần hoàn, sinh thái; nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả và sức cạnh tranh của sản phẩm nông nghiệp”[5]. Để hiện thực hóa mục tiêu này, Quảng Ngãi cần thực hiện đồng bộ các giải pháp sau:

 Một là, xây dựng hệ thống dữ liệu nông nghiệp có khả năng kết nối giữa Nhà nước, doanh nghiệp, hợp tác xã và người sản xuất. Dữ liệu về đất đai, cây trồng, vật nuôi, nguồn nước, khí hậu, dịch bệnh và vùng nguyên liệu cần trở thành cơ sở cho việc ra quyết định sản xuất và quản lý.

Hai là, tăng cường xây dựng và triển khai các chương trình, đề án nghiên cứu khoa học - công nghệ trong nông nghiệp; đẩy mạnh hợp tác với các viện nghiên cứu, trường dại học, doanh nghiệp trong nghiên cứu, chuyển giao và ứng dụng công nghệ cao, công nghệ sinh học, công nghệ sau thu hoạch, công nghệ chế biến sâu trong toàn bộ chuỗi giá trị nông nghiệp.

Ba là, tiếp tục mở rộng ứng dụng công nghệ trong sản xuất, bảo quản và chế biến; phát triển các nền tảng kết nối sản xuất với thị trường; thúc đẩy truy xuất nguồn gốc, mã số vùng trồng, thương mại điện tử và các kênh phân phối hiện đại. Đây cũng là những nhiệm vụ được tỉnh xác định trong định hướng phát triển nông nghiệp thời gian tới.

Bốn là, lựa chọn những ngành hàng có lợi thế để tập trung nguồn lực thay vì đầu tư dàn trải. Các sản phẩm như dược liệu, cà phê, cây ăn quả, thủy sản và những sản phẩm đặc hữu có khả năng hình thành vùng nguyên liệu, chế biến sâu và mở rộng thị trường cần được ưu tiên. Trong đó, dược liệu được xác định là một trong những hướng phát triển quan trọng, với mục tiêu hình thành vùng trồng tập trung khoảng 8.000 ha vào năm 2030[6], trở thành tỉnh trồng dược liệu lớn nhất cả nước.

Có thể khẳng định, công nghệ cao và chuyển đổi số đang mở ra không gian phát triển mới cho nông nghiệp Quảng Ngãi, nhưng giá trị của công nghệ chỉ thực sự được phát huy khi được chuyển hóa thành năng lực tổ chức sản xuất, kết nối thị trường và nâng cao giá trị trong toàn bộ chuỗi. Vì vậy, trọng tâm của quá trình chuyển đổi không nằm ở việc gia tăng số lượng công nghệ được ứng dụng, mà ở khả năng hình thành một phương thức phát triển nông nghiệp dựa trên dữ liệu, đổi mới sáng tạo và liên kết chuỗi.

Từ “đưa công nghệ vào sản xuất” đến “tổ chức sản xuất trên nền tảng công nghệ” là bước chuyển mang tính chiến lược. Khi chính quyền thực hiện tốt vai trò kiến tạo, doanh nghiệp dẫn dắt chuỗi giá trị, hợp tác xã tổ chức sản xuất và nông dân thực sự trở thành chủ thể, khoa học - công nghệ và chuyển đổi số sẽ trở thành lực lượng sản xuất quan trọng, góp phần chuyển dịch mô hình tăng trưởng của nông nghiệp Quảng Ngãi từ chiều rộng sang chiều sâu, nâng cao năng suất, chất lượng, giá trị gia tăng và sức cạnh tranh. Đây là nền tảng để tỉnh phát triển nền nông nghiệp hiện đại, sinh thái, tuần hoàn và bền vững, đóng góp hiệu quả hơn vào mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội trong giai đoạn mới./.

 

[1] Tỉnh ủy Quảng Ngãi (2026), Báo cáo số 246-BC/TU về Tổng kết Nghị quyết số 05-NQ/TU ngày 25/11/2021 “về phát triển nông nghiệp hàng hóa đi vào chiều sâu, ứng dụng công nghệ cao gắn với công nghiệp chế biến và thị trường tiêu thụ giai đoạn 2021–2025, Quảng Ngãi, tr. 4.

[2] Tỉnh ủy Quảng Ngãi (2026), Báo cáo số 246-BC/TU về Tổng kết Nghị quyết số 05-NQ/TU ngày 25/11/2021 “về phát triển nông nghiệp hàng hóa đi vào chiều sâu, ứng dụng công nghệ cao gắn với công nghiệp chế biến và thị trường tiêu thụ giai đoạn 2021–2025, Quảng Ngãi, tr. 4., tr. 7.

[3] Tỉnh ủy Quảng Ngãi (2026), Báo cáo số 246-BC/TU về Tổng kết Nghị quyết số 05-NQ/TU ngày 25/11/2021 “về phát triển nông nghiệp hàng hóa đi vào chiều sâu, ứng dụng công nghệ cao gắn với công nghiệp chế biến và thị trường tiêu thụ giai đoạn 2021–2025, Quảng Ngãi, tr. 4., tr. 4.

[4] Đảng bộ tỉnh Quảng Ngãi (2025), Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh Quảng Ngãi lần thứ I, nhiệm kỳ 2025-2030, Quảng Ngãi, tr. 9.

[5] Tỉnh ủy Quảng Ngãi (2026), Báo cáo Tổng kết Nghị quyết số 05-NQ/TU ngày 25/11/2021 “về phát triển nông nghiệp hàng hóa đi vào chiều sâu, ứng dụng công nghệ cao gắn với công nghiệp chế biến và thị trường tiêu thụ giai đoạn 2021–2025, Quảng Ngãi, tr. 8.

[6] Tỉnh ủy Quảng Ngãi (2026), Báo cáo Tổng kết Nghị quyết số 05-NQ/TU ngày 25/11/2021 “về phát triển nông nghiệp hàng hóa đi vào chiều sâu, ứng dụng công nghệ cao gắn với công nghiệp chế biến và thị trường tiêu thụ giai đoạn 2021–2025, Quảng Ngãi, tr. 9.