Từ Đại hội đại biểu lần thứ II của Đảng (2/1951) đến Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IV của Đảng (12/1976), Đảng ta có tên là Đảng Lao động Việt Nam. Tuy nhiên, đến nay vẫn còn nhiều ý kiến trao đổi khác nhau liên quan đến lý do thành lập và lấy tên Đảng Lao động Việt Nam. Bài viết này nêu tinh thần cơ bản của các văn kiện Đảng liên quan đến nội dung trên, qua đó tham góp thêm nguồn tư liệu chính thống về lý do thành lập và lấy tên Đảng Lao động Việt Nam

Văn kiện "Thông cáo của Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Đông Dương về việc đề nghị đổi tên Đảng (7/1950)"[1].

Đây là văn kiện đưa ra để thảo luận, xin ý kiến đóng góp đến cấp tỉnh và để trình bày tại Đại hội II dự kiến tổ chức vào năm 1951. Thông cáo giải thích hai nội dung: Vì sao lập Đảng của Việt Nam? Vì sao Đảng lấy tên là Đảng Lao Động Việt Nam?

Thứ nhất, vì sao lập Đảng riêng của Việt Nam?

Thông cáo giải thích: 1. Mỗi nước cần có một chính đảng cách mạng riêng vì Việt Nam, Cao Mên, Ai Lao tuy là ba quốc gia thuộc bán đảo Đông Dương, cùng một kẻ thù chung là thực dân Pháp, nhưng trình độ khác nhau về mọi mặt kinh tế, chính trị, xã hội, văn hoá và càng khác biệt hơn về yêu cầu, tính chất, chiến lược cách mạng từ sau cách mạng tháng Tám 1945, chế độ dân chủ nhân dân Việt Nam ra đời. Hơn nữa, đã đến lúc Đảng phải ra công khai ở Việt Nam, nếu vẫn giữ tên là Đảng Cộng sản Đông Dương thì sẽ không có lợi cho cách mạng các nước cũng như việc Việt Nam giúp đỡ cách mạng Mên, Lào. 2. Việc thành lập ở mỗi nước một Đảng riêng không có hại cho phong trào cách mạng chung của Đông Dương vì trong phong trào giải phóng của Cao Mên, Ai Lao đã có những tổ chức cộng sản trung kiên; cuộc kháng chiến của mỗi nước sẽ do trực tiếp nhân dân nước đó thực hiện và những người cộng sản mỗi nước lãnh đạo và vẫn có sự giúp đỡ của Việt Nam; vẫn thống nhất được hành động chung của ba nước…

Đồng chí Trường Chinh phát biểu tại Đại hội II, tháng 02/1951 (Ảnh tư liệu)

Thứ hai, vì sao Đảng lấy tên là Đảng Lao động Việt Nam ?

Sau những giải thích lý do trước đó Đảng có tên là Đảng Cộng sản và Đông Dương, Thông cáo phân tích sự thay đổi của tình hình cách mạng thế giới, sự trưởng thành của lực lượng cộng sản và thực tiễn chủ nghĩa cộng sản đã ngấm sâu vào đời sống hằng ngày của nhiều dân tộc, thì tổ chức cộng sản không nhất thiết phải lấy tên là Đảng Cộng sản mà có thể lấy tên mới có lợi cho cách mạng.

Song dù tên Đảng là gì thì căn bản nội dung về nền tảng lý luận, tư tưởng, nguyên tắc tổ chức, quy luật phát triển… của Đảng Cộng sản vẫn không thay đổi. Đảng lấy tên Lao động vì:

1. Có những điều lợi: trong việc xây dựng, củng cố khối đại đoàn kết toàn dân; Đảng dễ gây ảnh hưởng trong mọi tầng lớp nhân dân, làm cho tính chất quần chúng của đảng mạnh mẽ hơn; Chủ tịch Hồ Chí Minh và các lãnh tụ công khai tuyên bố đứng trong Đảng, như thế có tính chính danh và sẽ ảnh hưởng đến trong, ngoài nước; ngoài ra việc tuyên truyền về Đảng và Đảng giúp đỡ phong trào cách mạng các nước khác cũng thuận lợi hơn.

2. Lấy tên Lao động không có hại vì: Đảng đổi tên nhưng nội dung căn bản, bản chất Đảng không thay đổi và chú trọng hơn công tác giáo dục tư tưởng, tuyên truyền trong Đảng nên không ngại đảng viên cộng sản hiểu lầm. Đảng chú trọng phát triển các tầng lớp lao động, điều kiện kết nạp đảng viên chặt chẽ nên không ngại thành phần đảng viên trở nên phức tạp, trái lại còn có thể “tẩy bỏ những phần tử hủ hoá, cơ hội” trong Đảng. Chủ trương, chính sách và hành động của Đảng Lao động Việt Nam căn bản vẫn là của Đảng Cộng sản Đông Dương, thế nên không lo quần chúng hoang mang hay uy tín của Đảng với quần chúng bị giảm sút. Ngoài ra, do sự tuyên truyền, giải thích, thái độ hành động của Đảng và niềm tin, tình cảm của quần chúng đối với Đảng nên cũng sẽ không ngại việc đế quốc lợi dụng cho tay sai thành lập một “Đảng Cộng sản” giả hiệu.

Như vậy, việc lấy tên Đảng Lao động Việt Nam là cần thiết và có lợi cho cách mạng, tuy nhiên, tuỳ thuộc điều kiện sau này, Đảng Lao động Việt Nam lại có thể lấy tên là Cộng sản[2].

Từ Đại hội II, Đảng lấy tên Đảng Lao động Việt Nam và ra công khai lãnh đạo kháng chiến, kiến quốc (Ảnh tư liệu)

 Văn kiện "Hoàn thành giải phóng dân tộc, phát triển dân chủ nhân dân, tiến tới chủ nghĩa xã hội"[3]

Phần thứ tư của văn kiện về nội dung Đảng Lao động Việt Nam, mục I: Tại sao chúng ta lấy tên Đảng là Đảng Lao động Việt Nam? Đề cập tới các vấn đề:

Thứ nhất, vì sao cần phải lập Đảng Việt Nam, văn kiện thống nhất với những nội dung của Thông cáo tháng 7-1950 nhưng nhấn mạnh thêm: “Lập Đảng Lao động Việt Nam là cốt để củng cố thêm vai trò lãnh đạo của giai cấp công nhân, củng cố công nông liên minh, gắn bó giai cấp công nhân với các tầng lớp nhân dân lao động khác, thống nhất các lực lượng dân tộc và dân chủ dưới sự lãnh đạo của Đảng, đặng đánh bại bọn đế quốc và bè lũ chó săn của chúng, hoàn thành giải phóng dân tộc, củng cố và phát triển chế độ dân chủ nhân dân, bảo vệ hoà bình, dân chủ thế giới, chuẩn bị điều kiện tiến tới chủ nghĩa xã hội”[4].

Thứ hai, vì sao lấy tên Đảng Lao động Việt Nam, tiếp tục tinh thần của Thông cáo tháng 7/1950, văn kiện khẳng định đó là việc “chẳng những lợi cho việc đoàn kết toàn dân đánh bại quân xâm lược, mà còn lợi cho việc thống nhất Mặt trận phản đế của ba dân tộc Việt, Miên, Lào chống đế quốc Pháp - Mỹ, giành độc lập hoàn toàn cho các dân tộc Đông Dương. Văn kiện còn giải thích những ý kiến thắc mắc về việc bỏ tên Đảng Cộng sản Đông Dương trên cả phương diện tình cảm, kinh nghiệm thế giới và thực tiễn cách mạng đất nước.

Từ những phân tích, luận giải cụ thể, phần II của văn kiện[5] trả lời rõ nội dung Đảng Lao động Việt Nam là một Đảng như thế nào?

Cụ thể: Đảng Lao động Việt Nam… là người lãnh đạo sáng suốt, kiên quyết, trung thành của giai cấp công nhân và nhân dân lao động, của nhân dân Việt Nam…

Về thành phần, Đảng Lao động Việt Nam sẽ kết nạp những công nhân, nông dân, trí thức lao động, thật hăng hái, giác ngộ cách mạng. Về lý luận, Đảng Lao động Việt Nam theo chủ nghĩa Mác-Lênin. Về tổ chức, Đảng Lao động Việt Nam theo chế độ dân chủ tập trung. Về kỷ luật, Đảng Lao động Việt Nam phải có kỷ luật sắt. Về đường lối, Đảng Lao động Việt Nam theo đường lối quần chúng. Về luật phát triển, Đảng Lao động Việt Nam dùng lối phê bình và tự phê bình… Về mục đích trước mắt, Đảng Lao động Việt Nam đoàn kết và lãnh đạo toàn dân kháng chiến cho đến thắng lợi hoàn toàn, tranh lại thống nhất và độc lập thực sự, lãnh đạo toàn dân thực hiện dân chủ mới, xây dựng điều kiện để tiến tới chủ nghĩa xã hội.

Đảng Lao động Việt Nam là đội tiền phong và bộ tham mưu của giai cấp công nhân vì thực tiễn, Đảng có những điều kiện cốt yếu về nền tảng tư tưởng, nguyên tắc tổ chức và quy luật phát triển của chính đảng cách mạng kiểu mới của giai cấp công nhân. Song, Đảng cũng là đội tiền phong, bộ tham mưu chung của nhân dân lao động, chính vì thế, cũng là đội tiên phong, bộ tham mưu của cả dân tộc Việt Nam. Bởi giai cấp công nhân Việt Nam đã thành một giai cấp có chính quyền trong tay và đã nhất trí với dân tộc. Giai cấp công nhân là bộ phận trung kiên, tiên tiến nhất trong nhân dân lao động và nhân dân lao động lại là cơ sở của dân tộc và chiếm số rất đông trong dân tộc. Hiện thời giai cấp công nhân, nhân dân lao động và dân tộc đều có một ý nguyện là kháng chiến giành độc lập, tự do, hạnh phúc. Cho nên Hồ Chủ tịch nói: Chính vì Đảng Lao động Việt Nam là Đảng của giai cấp công nhân và nhân dân lao động, cho nên nó phải là Đảng của dân tộc Việt Nam…[6]

Trên tinh thần tiếp tục truyền thống và sự nghiệp của Đảng Cộng sản Đông Dương, Đảng Lao động Việt Nam có nhiệm vụ “lãnh đạo cuộc kháng chiến trường kỳ của dân tộc Việt Nam đi đến toàn thắng, lãnh đạo việc xây dựng và phát triển chế độ dân chủ nhân dân Việt Nam, đưa nước Việt Nam dần dần tiến lên chủ nghĩa xã hội; giúp đỡ các dân tộc Miên, Lào làm cách mạng dân tộc giải phóng và tiến tới dân chủ mới”[7].

Thực tiễn đất nước những năm 1951-1976 đã minh chứng sinh động cho vai trò, sứ mệnh lãnh đạo cách mạng của Đảng Lao động Việt Nam cũng như tầm nhìn, trí tuệ, bản lĩnh của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Đảng đối với việc lấy tên Đảng Lao động Việt Nam và đưa Đảng ra hoạt động công khai.

Đây cũng là một cơ sở quan trọng, chính thống để phản bác lại những luận điệu xuyên tạc sự kiện lịch sử cho rằng Đảng chỉ là của một bộ phận, bảo vệ quyền lợi một bộ phận… hay phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng. Bên cạnh đó, còn là những kinh nghiệm quý về phương pháp xây dựng, tổ chức Đảng vững mạnh; về xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc để Đảng vững bước lãnh đạo đất nước trong kỷ nguyên mới.

 

[1] Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2001, t. 11, tr. 362-374

[2] Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Sđd, t.11, tr.373.

[3] Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, t.12, tr. 156-175.

[4] Đảng Cộng sản Việt Nam:Văn kiện Đảng toàn tập, Sđd, t.12,tr.156-157.

[5] Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Sđd, t.12, tr.158-160.

[6] Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Sđd, t.12, tr.160.

[7] Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Sđd, t.12, tr160.