Việc triển khai mô hình chính quyền địa phương hai cấp là bước cải cách quan trọng nhằm tinh gọn bộ máy, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản trị địa phương. Từ thực tiễn vận hành tại tỉnh Gia Lai, bài viết phân tích những kết quả bước đầu, những khó khăn, vướng mắc và đề xuất các giải pháp tiếp tục hoàn thiện mô hình trong thời gian tới.

Thực hiện chủ trương của Đảng và Nhà nước về tiếp tục đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả, mô hình chính quyền địa phương hai cấp đã chính thức được triển khai trên phạm vi cả nước theo Luật Tổ chức chính quyền địa phương và các văn bản hướng dẫn của Chính phủ. Đây là bước cải cách lớn, tác động sâu rộng đến tổ chức bộ máy, đội ngũ cán bộ, công chức và phương thức quản lý nhà nước ở địa phương.

Sau sáp nhập, tỉnh Gia Lai có diện tích rộng, địa hình phức tạp, nhiều xã miền núi, vùng sâu, vùng xa với tỷ lệ đồng bào dân tộc thiểu số cao. Trong bối cảnh đó, việc vận hành mô hình chính quyền địa phương hai cấp vừa mang ý nghĩa quan trọng trong nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước, vừa đặt ra nhiều yêu cầu mới về tổ chức bộ máy, nhân lực, nguồn lực và phương thức quản trị. Trên cơ sở đánh giá thực tiễn triển khai mô hình này, bài viết tập trung làm rõ những kết quả bước đầu, chỉ ra những tồn tại, hạn chế, đồng thời nhận diện một số vấn đề đặt ra nhằm tiếp tục hoàn thiện mô hình trong thời gian tới.

Những kết quả bước đầu trong vận hành chính quyền địa phương hai cấp trên địa bàn tỉnh Gia Lai

Thứ nhất, bộ máy chính quyền địa phương hai cấp được tổ chức và vận hành ổn định, thông suốt

Thực hiện Luật Tổ chức chính quyền địa phương 2025 và các văn bản của Trung ương, tỉnh Gia Lai đã hoàn thành việc sắp xếp, kiện toàn tổ chức bộ máy chính quyền địa phương hai cấp theo đúng quy định. Chính quyền địa phương tỉnh bao gồm Hội đồng nhân dân (HĐND) tỉnh và Ủy ban nhân dân (UBND) tỉnh. Hội đồng nhân dân tỉnh được tổ chức với Thường trực HĐND tỉnh gồm Chủ tịch, Phó Chủ tịch và các Ủy viên là Trưởng ban của HĐND; HĐND tỉnh có 03 Ban chuyên trách gồm Ban Pháp chế, Ban Kinh tế - Ngân sách và Ban Văn hóa - Xã hội. Ủy ban nhân dân tỉnh được tổ chức với Thường trực UBND và 14 cơ quan chuyên môn thuộc UBND tỉnh gồm 78 phòng và 14 chi cục, đơn vị tương đương, cùng 01 Ban Quản lý Khu kinh tế tỉnh[1].

Ở cấp xã, toàn tỉnh có 135 xã, phường với cơ cấu tổ chức gồm HĐND và UBND; đã thành lập 530 cơ quan chuyên môn, tổ chức hành chính thuộc cấp xã, bao gồm: 134 Văn phòng UBND cấp xã; 134 phòng Kinh tế; 131 phòng Văn hóa - Xã hội và 131 Trung tâm Phục vụ hành chính công[2]. Việc thành lập các bộ phận này được thực hiện đồng bộ, bảo đảm đầy đủ theo khung quy định, phù hợp với yêu cầu quản lý nhà nước và điều kiện thực tế của địa phương.

Việc sắp xếp tổ chức bộ máy được triển khai bài bản, thận trọng, bảo đảm tính kế thừa, ổn định; hoạt động của các cơ quan nhà nước không bị gián đoạn. Từ ngày 01/7/2025 đến nay, bộ máy chính quyền địa phương hai cấp trên địa bàn tỉnh cơ bản vận hành thông suốt, đáp ứng yêu cầu quản lý nhà nước và phục vụ Nhân dân.

Thứ hai, công tác sắp xếp, bố trí và tăng cường cán bộ, công chức đạt nhiều kết quả tích cực

Một trong những kết quả nổi bật trong quá trình vận hành chính quyền địa phương hai cấp trên địa bàn tỉnh là việc chủ động điều động, bố trí và tăng cường cán bộ, công chức về cấp xã, bảo đảm bộ máy chính quyền cơ sở hoạt động thông suốt, hiệu quả ngay từ giai đoạn đầu. Cụ thể, UBND tỉnh đã ban hành Kế hoạch số 38/KH-UBND về tăng cường công chức, viên chức về xã, phường; đồng thời thành lập các tổ công tác chuyên môn tập trung vào những lĩnh vực then chốt, có khối lượng công việc lớn và yêu cầu chuyên môn cao như đất đai, tài chính - ngân sách, xây dựng, tư pháp, nội vụ.

Tính đến nay, toàn tỉnh đã tăng cường tổng cộng 426 lượt cán bộ, công chức, viên chức từ cấp tỉnh và cấp huyện (cũ) về hỗ trợ 260 lượt xã, phường[3]. Việc tăng cường được thực hiện theo hình thức luân phiên, hỗ trợ trực tiếp tại cơ sở, tập trung vào các địa bàn còn thiếu nhân lực chuyên môn hoặc gặp khó khăn trong quá trình triển khai nhiệm vụ mới. Nhờ đó, nhiều địa phương đã từng bước khắc phục tình trạng thiếu hụt cán bộ chuyên môn, nhất là ở các lĩnh vực quản lý đất đai, đầu tư xây dựng và giải quyết thủ tục hành chính cho người dân.

Công tác điều động, sắp xếp cán bộ được triển khai trên cơ sở vị trí việc làm, bảo đảm phù hợp với trình độ, năng lực chuyên môn, đồng thời giữ vững tính kế thừa và ổn định của đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã. Thực tiễn cho thấy, việc tăng cường cán bộ, công chức không chỉ hỗ trợ kịp thời cho cơ sở mà còn góp phần nâng cao hiệu quả thực thi công vụ, củng cố năng lực quản lý nhà nước của chính quyền địa phương cấp xã, đáp ứng yêu cầu vận hành mô hình chính quyền địa phương hai cấp trên địa bàn tỉnh Gia Lai.

Thứ ba, giải quyết chế độ, chính sách đối với cán bộ, công chức, viên chức kịp thời, đúng quy định

Việc giải quyết chế độ, chính sách đối với cán bộ, công chức, viên chức và người hoạt động không chuyên trách trên địa bàn tỉnh Gia Lai trong quá trình sắp xếp, vận hành mô hình chính quyền địa phương hai cấp được triển khai kịp thời, nghiêm túc và đúng quy định pháp luật, qua đó tạo nền tảng quan trọng cho sự ổn định tổ chức và tư tưởng đội ngũ. Theo đó, tỉnh đã thực hiện chính sách tinh giản biên chế, nghỉ hưu trước tuổi và nghỉ thôi việc đối với 3.364 cán bộ, công chức, viên chức, trong đó có 1.930 người nghỉ hưu trước tuổi và 1.434 người nghỉ thôi việc, với tổng kinh phí chi trả là 3.193.812 triệu đồng và đã hoàn thành giải ngân theo đúng quy định. Đồng thời, đối với người hoạt động không chuyên trách cấp xã, toàn tỉnh có 2.042 trường hợp đề nghị giải quyết chế độ, trong đó 1.521 người đã được phê duyệt với tổng kinh phí 278.669.787.000 đồng; bên cạnh đó, tỉnh cũng đã giải quyết chế độ cho 181 người làm việc ngoài chỉ tiêu biên chế tại các Hội do Đảng, Nhà nước giao nhiệm vụ, với kinh phí hơn 6,8 tỷ đồng[4]. Việc tổ chức thực hiện đầy đủ, minh bạch các chính sách này không chỉ bảo đảm quyền lợi chính đáng của người lao động mà còn góp phần quan trọng tạo sự đồng thuận, ổn định tâm lý đội ngũ, hạn chế xáo trộn trong quá trình sắp xếp bộ máy, qua đó hỗ trợ tích cực cho việc vận hành thông suốt, hiệu quả mô hình chính quyền địa phương hai cấp trên địa bàn tỉnh Gia Lai.

Những kết quả tích cực đạt được xuất phát từ nhiều nguyên nhân, trong đó nổi bật là sự lãnh đạo, chỉ đạo quyết liệt, thống nhất và kịp thời của Tỉnh ủy, Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân tỉnh, gắn với việc quán triệt, tổ chức thực hiện nghiêm Luật Tổ chức chính quyền địa phương và các văn bản hướng dẫn của Trung ương. Trên cơ sở khung pháp lý rõ ràng, tỉnh đã chủ động ban hành hệ thống văn bản chỉ đạo, kế hoạch, phương án triển khai đồng bộ từ cấp tỉnh đến cấp xã, tạo nền tảng vững chắc cho quá trình sắp xếp bộ máy. Đồng thời, vai trò tham mưu nòng cốt của Sở Nội vụ được phát huy rõ nét, thể hiện qua việc kịp thời rà soát, hướng dẫn chuyên môn, phối hợp chặt chẽ với các sở, ngành, địa phương trong bố trí nhân sự, giải quyết chế độ, chính sách và tháo gỡ những khó khăn phát sinh trong thực tiễn. Một nguyên nhân quan trọng khác là việc tỉnh đã kết hợp chặt chẽ giữa sắp xếp tổ chức bộ máy với công tác cán bộ, gắn điều động, bố trí, tăng cường công chức với vị trí việc làm, trình độ chuyên môn và yêu cầu nhiệm vụ của từng địa phương, nhất là cấp xã - nơi trực tiếp phục vụ Nhân dân đã góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động của hệ thống chính quyền. Ngoài ra, sự phối hợp chặt chẽ giữa các cơ quan chức năng trong thẩm định, bố trí kinh phí; cùng với việc chú trọng đào tạo, bồi dưỡng, nâng cao năng lực, ứng dụng chuyển đổi số trong quản lý và giải quyết thủ tục hành chính, đã góp phần bảo đảm cho bộ máy chính quyền địa phương hai cấp ở tỉnh Gia Lai nhanh chóng đi vào hoạt động ổn định, thông suốt và từng bước phát huy hiệu quả trong thực tiễn.

Ảnh: Bãi biển Quy Nhơn, tỉnh Gia Lai (Nguồn: Báo Lao động)

Những tồn tại, hạn chế trong quá trình vận hành

Bên cạnh những kết quả đạt được, quá trình vận hành chính quyền địa phương hai cấp ở tỉnh Gia Lai vẫn còn một số tồn tại, hạn chế cần được nhìn nhận thẳng thắn.

Thứ nhất, tình trạng thiếu hụt công chức chuyên môn ở cấp xã vẫn là vấn đề nổi bật, gây áp lực lớn cho bộ máy cơ sở. Mặc dù UBND tỉnh đã điều chỉnh tăng biên chế cán bộ, công chức cấp xã từ 5.242 biên chế lên 6.048 biên chế (tăng 806 biên chế), song thực tế toàn tỉnh mới bố trí được 5.027 cán bộ, công chức, vẫn còn thiếu 616 người so với tổng biên chế được giao[5]. Sự thiếu hụt này tập trung chủ yếu ở các lĩnh vực chuyên môn then chốt như đất đai, tài chính - kế toán, xây dựng, là những lĩnh vực có khối lượng công việc lớn, tính chuyên sâu cao và trực tiếp liên quan đến quyền, lợi ích của người dân. Áp lực công việc lớn trong khi biên chế chưa được bố trí đầy đủ đã ảnh hưởng nhất định đến hiệu quả thực thi nhiệm vụ.

Thứ hai, chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã chưa đồng đều, chưa theo kịp yêu cầu của mô hình chính quyền mới. Về trình độ chuyên môn, mặc dù tỷ lệ cán bộ có trình độ đại học trở lên đạt mức cao (87,3%), song vẫn còn 42 người (0,8%) chỉ có trình độ cao đẳng, trung cấp, chưa đạt chuẩn theo yêu cầu mới. Đáng chú ý, số cán bộ có trình độ sau đại học còn rất thấp, với 610 thạc sĩ (11,8%) và chỉ 04 tiến sĩ, bác sĩ chuyên khoa II (0,1%), cho thấy nguồn nhân lực chất lượng cao ở cấp xã còn mỏng[6]. Bên cạnh đó, một bộ phận cán bộ, công chức còn hạn chế về kỹ năng quản lý, điều hành, kỹ năng phối hợp liên ngành và khả năng ứng dụng công nghệ số, nhất là trong bối cảnh khối lượng công việc và yêu cầu phục vụ Nhân dân gia tăng rõ rệt sau khi triển khai mô hình hai cấp.

Thứ ba, cơ sở vật chất và hạ tầng công nghệ thông tin giữa các địa phương chưa đồng bộ. Điều kiện trụ sở, trang thiết bị và hạ tầng công nghệ thông tin giữa các xã, phường còn chênh lệch, đặc biệt tại các xã vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số. Thực tiễn này làm giảm hiệu quả triển khai cơ chế một cửa, một cửa liên thông và là rào cản trong việc thúc đẩy chuyển đổi số đồng bộ từ tỉnh đến cơ sở.

Thứ tư, sự lúng túng trong tổ chức thực hiện các quy định mới ở giai đoạn đầu vận hành vẫn còn diễn ra tại một số địa phương. Nguyên nhân chủ yếu là do hệ thống văn bản pháp luật liên quan đến mô hình chính quyền địa phương hai cấp được ban hành với mật độ lớn, nội dung nhiều và yêu cầu cập nhật liên tục, trong khi đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã ở một số nơi còn thiếu về số lượng, chưa đồng đều về năng lực, dẫn đến những khó khăn nhất định trong việc tiếp cận, nghiên cứu và vận dụng kịp thời các quy định vào thực tiễn.

Những tồn tại, hạn chế nêu trên phản ánh tính tất yếu của giai đoạn chuyển tiếp khi triển khai một mô hình tổ chức mới, đồng thời đặt ra yêu cầu cấp thiết phải tiếp tục hoàn thiện tổ chức bộ máy, nâng cao chất lượng đội ngũ và bảo đảm các điều kiện cần thiết để chính quyền địa phương hai cấp ở tỉnh Gia Lai vận hành ngày càng hiệu lực, hiệu quả và ổn định hơn trong thời gian tới.

Từ thực tiễn vận hành chính quyền địa phương hai cấp ở tỉnh Gia Lai, có thể đặt ra một số vấn đề trọng tâm cần tiếp tục quan tâm giải quyết trong thời gian tới, đó là: Một là, vấn đề bảo đảm đủ số lượng và nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã, đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của mô hình chính quyền địa phương hai cấp. Hai là, vấn đề cân đối giữa phân cấp, phân quyền với năng lực thực thi của cấp xã, bảo đảm giao quyền đi đôi với điều kiện và nguồn lực thực hiện. Ba là, vấn đề bảo đảm nguồn lực tài chính, cơ sở vật chất và hạ tầng số cho vận hành ổn định, bền vững bộ máy chính quyền địa phương. Bốn là, vấn đề tiếp tục hoàn thiện thể chế, cơ chế hướng dẫn, phù hợp với đặc thù địa phương miền núi, vùng đồng bào dân tộc thiểu số. Năm là, vấn đề lấy sự hài lòng của người dân, doanh nghiệp làm thước đo hiệu quả vận hành chính quyền địa phương hai cấp.

Tiếp tục hoàn thiện và nâng cao hiệu quả vận hành chính quyền địa phương hai cấp trên địa bàn tỉnh Gia Lai

Trên cơ sở thực tiễn vận hành mô hình chính quyền địa phương hai cấp và những vấn đề đặt ra, để nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động của bộ máy chính quyền địa phương trong thời gian tới, tỉnh Gia Lai cần tập trung triển khai đồng bộ một số giải pháp trọng tâm sau:

Thứ nhất, tiếp tục hoàn thiện cơ chế phân cấp, phân quyền gắn với điều kiện bảo đảm và năng lực thực thi của từng cấp chính quyền, bảo đảm giao quyền đi đôi với trách nhiệm, thẩm quyền gắn với điều kiện thực hiện. Việc phân cấp cần được rà soát thường xuyên trên cơ sở đánh giá thực tiễn vận hành, tránh tình trạng quá tải hoặc vượt khả năng thực thi, đồng thời bảo đảm tính thống nhất trong chỉ đạo, điều hành và tuân thủ pháp luật.

Thứ hai, nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức đáp ứng yêu cầu vận hành mô hình hai cấp. Cần chú trọng đào tạo, bồi dưỡng theo hướng sát vị trí việc làm, tăng cường kỹ năng quản lý nhà nước, kỹ năng thực thi công vụ, kỹ năng phối hợp liên thông và năng lực ứng dụng công nghệ số; đồng thời thực hiện tốt công tác sắp xếp, bố trí, sử dụng cán bộ phù hợp với năng lực, sở trường, bảo đảm tính ổn định và kế thừa trong đội ngũ.

Thứ ba, bảo đảm đầy đủ và đồng bộ các điều kiện về tài chính, cơ sở vật chất và hạ tầng công nghệ thông tin. Việc đầu tư cần gắn với yêu cầu cải cách hành chính và chuyển đổi số, ưu tiên hoàn thiện các điều kiện phục vụ giải quyết thủ tục hành chính và cung cấp dịch vụ công, nhất là ở địa bàn vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số, qua đó nâng cao hiệu quả vận hành bộ máy và chất lượng phục vụ Nhân dân.

Thứ tư, tăng cường công tác hướng dẫn, kiểm tra, giám sát và kịp thời tháo gỡ khó khăn, vướng mắc trong quá trình thực hiện. Cần chú trọng việc theo dõi, tổng kết thực tiễn, phát hiện những bất cập trong tổ chức và vận hành mô hình để đề xuất điều chỉnh phù hợp; đồng thời nâng cao hiệu quả phối hợp giữa các cơ quan, đơn vị trong giải quyết công việc liên thông, hạn chế ách tắc, chồng chéo.

Thứ năm, lấy hiệu quả phục vụ Nhân dân làm thước đo đánh giá chất lượng vận hành chính quyền địa phương hai cấp. Cần tiếp tục hoàn thiện quy trình giải quyết thủ tục hành chính theo hướng công khai, minh bạch, thuận lợi; nâng cao kỷ luật, kỷ cương và đạo đức công vụ của đội ngũ cán bộ, công chức; gắn kết quả vận hành bộ máy với mức độ hài lòng, niềm tin và sự đồng thuận của người dân, doanh nghiệp.

Thực tiễn vận hành chính quyền địa phương hai cấp ở tỉnh Gia Lai cho thấy đây là một chủ trương đúng đắn, phù hợp với yêu cầu đổi mới tổ chức bộ máy nhà nước trong giai đoạn hiện nay. Những kết quả bước đầu có ý nghĩa quan trọng, tạo nền tảng cho việc tiếp tục hoàn thiện mô hình trong thời gian tới. Bên cạnh đó, những tồn tại và hạn chế là tất yếu trong giai đoạn chuyển tiếp và cần được nhìn nhận một cách khách quan. Việc nhận diện đúng vấn đề và triển khai các giải pháp phù hợp sẽ góp phần xây dựng chính quyền địa phương hai cấp ở tỉnh Gia Lai theo hướng tinh gọn, hiệu lực, hiệu quả, gần dân, sát dân và phục vụ Nhân dân ngày càng tốt hơn./.

 

[1] Công văn số 572/SNV-CQTN-VTVL ngày 26/01/2026 của Sở Nội vụ tỉnh Gia Lai

[2] Công văn số 572/SNV-CQTN-VTVL ngày 26/01/2026 của Sở Nội vụ tỉnh Gia Lai

[3] Công văn số 572/SNV-CQTN-VTVL ngày 26/01/2026 của Sở Nội vụ tỉnh Gia Lai

[4] Công văn số 572/SNV-CQTN-VTVL ngày 26/01/2026 của Sở Nội vụ tỉnh Gia Lai

[5] Công văn số 572/SNV-CQTN-VTVL ngày 26/01/2026 của Sở Nội vụ tỉnh Gia Lai

[6] Công văn số 572/SNV-CQTN-VTVL ngày 26/01/2026 của Sở Nội vụ tỉnh Gia Lai