Khát vọng bảo vệ độc lập dân tộc - mệnh lệnh của lịch sử

        Ngày 19/12/1946 đánh dấu một bước ngoặt trong lịch sử  dân tộc Việt Nam, thực dân Pháp quay trở lại xâm lược nước ta, đẩy dân tộc đứng trước nguy cơ mất nước một lần nữa. Lựa chọn đặt ra không còn là hòa hoãn hay nhân nhượng, mà là quyết tâm đứng lên chiến đấu để bảo vệ nền độc lập vừa giành được. “Lời kêu gọi Toàn quốc kháng chiến” của Chủ tịch Hồ Chí Minh không chỉ là mệnh lệnh chiến đấu, mà còn là sự kết tinh cao độ của khát vọng độc lập, tự do - giá trị thiêng liêng mà dân tộc Việt Nam đã phải đánh đổi bằng biết bao xương máu của nhiều thế hệ cha ông.

        Khát vọng ấy mang tính sinh tồn của một quốc gia non trẻ. Độc lập dân tộc không chỉ là quyền làm chủ đất nước, mà còn là tiền đề để nhân dân được làm chủ vận mệnh của chính mình. Trong hoàn cảnh “thà hy sinh tất cả, chứ nhất định không chịu mất nước”[1], khát vọng độc lập đã trở thành sức mạnh tinh thần vô song, quy tụ toàn dân tộc, vượt qua khác biệt giai cấp, tôn giáo, vùng miền, tạo nên khối đại đoàn kết toàn dân. Chính khát vọng đó đã dẫn dắt nhân dân ta đi qua chín năm kháng chiến trường kỳ, làm nên chiến thắng Điện Biên Phủ, buộc thực dân Pháp và các nước lớn ký Hiệp định Giơnevơ công nhận các quyền dân tộc cơ bản của nhân dân Việt Nam.

        Sau năm 1954, khát vọng bảo vệ độc lập dân tộc được nâng lên thành khát vọng thống nhất đất nước, hoàn thành trọn vẹn sự nghiệp giải phóng dân tộc. Đất nước bị chia cắt, nhân dân hai miền chung một khát vọng: Bắc - Nam sum họp một nhà. Khát vọng ấy không chỉ thể hiện ở ý chí chiến đấu kiên cường, mà còn ở quyết tâm xây dựng miền Bắc xã hội chủ nghĩa làm hậu phương vững chắc cho tiền tuyến lớn miền Nam với tinh thần "Không có gì quý hơn độc lập, tự do"[2].

        Đại thắng mùa Xuân năm 1975 là kết quả tất yếu của một quá trình đấu tranh kiên cường, bền bỉ, trong đó, khát vọng độc lập, thống nhất đã trở thành động lực tinh thần to lớn, giúp dân tộc Việt Nam vượt qua những thử thách khắc nghiệt nhất. Tuy nhiên, hòa bình lập lại không đồng nghĩa với việc khát vọng dân tộc đã hoàn thành sứ mệnh lịch sử. Ngược lại, một khát vọng mới được đặt ra: xây dựng đất nước giàu mạnh, mang lại cuộc sống ấm no, hạnh phúc cho nhân dân.

        Khát vọng đổi mới - bước chuyển từ tồn tại sang phát triển

        Thực tiễn sau chiến tranh cho thấy, bảo vệ và giữ vững độc lập dân tộc mới chỉ là điều kiện cần; điều kiện đủ để độc lập có ý nghĩa thực chất là nâng cao đời sống nhân dân, phát triển kinh tế - xã hội, đưa đất nước thoát khỏi đói nghèo, lạc hậu. Công cuộc đổi mới được khởi xướng từ năm 1986 chính là biểu hiện sinh động của khát vọng phát triển trong bối cảnh mới.

        Đổi mới không phải là từ bỏ những giá trị cốt lõi của con đường đã lựa chọn, mà là sự điều chỉnh tư duy phát triển cho phù hợp với quy luật khách quan và thực tiễn đất nước. Khát vọng lúc này không còn dừng ở việc “giữ nước”, mà chuyển sang “làm giàu cho đất nước”, “nâng cao đời sống nhân dân”. Từ một nền kinh tế bao cấp, kém hiệu quả, Việt Nam từng bước hội nhập vào kinh tế khu vực và thế giới, đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử.

        Kỷ nguyên vươn mình của dân tộc và khát vọng phồn vinh, văn minh, hạnh phúc

        Bước vào thế kỷ XXI, đặc biệt trong bối cảnh toàn cầu hóa sâu rộng và tác động mạnh mẽ của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, Việt Nam đang đứng trước một giai đoạn phát triển có ý nghĩa chiến lược, được xác định là kỷ nguyên vươn mình của dân tộc. Đây không chỉ là một giai đoạn phát triển mới về kinh tế – xã hội, mà còn là bước chuyển quan trọng về tư duy phát triển, về tầm nhìn quốc gia và về khát vọng dân tộc. Trong kỷ nguyên này, khát vọng của Việt Nam không còn dừng lại ở mục tiêu “thoát nghèo” hay “bắt kịp”, mà hướng tới phát triển nhanh, bền vững, toàn diện; xây dựng đất nước phồn vinh, nhân dân hạnh phúc.

        Kỷ nguyên vươn mình của dân tộc được hình thành trên nền tảng những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử sau gần bốn thập kỷ đổi mới. Việt Nam đã chuyển mình từ một quốc gia nghèo nàn, lạc hậu trở thành nền kinh tế đang phát triển có độ mở cao, hội nhập ngày càng sâu vào chuỗi giá trị toàn cầu. Vị thế, uy tín quốc tế của đất nước không ngừng được nâng cao; đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân được cải thiện rõ rệt. Tuy nhiên, trong bối cảnh cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn, biến động địa chính trị phức tạp, biến đổi khí hậu, già hóa dân số và yêu cầu chuyển đổi mô hình tăng trưởng, Việt Nam không thể tiếp tục phát triển theo cách cũ. Chính thực tiễn đó đặt ra yêu cầu phải “vươn mình” cả về quy mô, chất lượng và tầm vóc phát triển.

        Khát vọng phồn vinh, hạnh phúc trong kỷ nguyên vươn mình là sự phát triển về chất của khát vọng dân tộc. Nếu như trong các giai đoạn trước, mục tiêu trung tâm là giành và giữ độc lập, thống nhất đất nước, thì ngày nay, khát vọng ấy được cụ thể hóa bằng việc xây dựng một quốc gia phát triển, có năng lực cạnh tranh cao, xã hội ổn định, nhân dân có cuộc sống ấm no, tự do, an toàn và hạnh phúc. Phồn vinh không chỉ được đo bằng tốc độ tăng trưởng GDP, mà còn được thể hiện ở chất lượng tăng trưởng, ở khả năng đổi mới sáng tạo, ở trình độ khoa học và công nghệ, ở năng lực quản trị quốc gia và sức chống chịu của nền kinh tế trước các cú sốc bên ngoài.

        Trong kỷ nguyên mới, phát triển bền vững trở thành yêu cầu xuyên suốt. Phát triển nhanh nhưng không đánh đổi môi trường, không làm gia tăng bất bình đẳng xã hội, không hy sinh các giá trị văn hóa và đạo đức xã hội. Sự hài hòa giữa tăng trưởng kinh tế với tiến bộ, công bằng xã hội; giữa phát triển hiện đại với gìn giữ bản sắc dân tộc; giữa lợi ích trước mắt với lợi ích lâu dài là những tiêu chí cốt lõi của khát vọng phồn vinh. Điều đó đòi hỏi Việt Nam phải chuyển đổi mô hình phát triển theo hướng dựa nhiều hơn vào tri thức, khoa học  và công nghệ, kinh tế số, kinh tế xanh và kinh tế tuần hoàn.

        Khát vọng hạnh phúc trong kỷ nguyên vươn mình mang nội hàm sâu sắc và toàn diện hơn. Hạnh phúc không chỉ là thu nhập cao hơn, mà còn là sự an toàn trong cuộc sống, sự công bằng trong tiếp cận cơ hội, sự bảo đảm về an sinh xã hội, y tế, giáo dục và môi trường sống lành mạnh. Đó còn là niềm tin của người dân vào tương lai, vào sự công bằng của xã hội, vào khả năng vươn lên bằng chính năng lực và nỗ lực của mình. Khi con người được đặt ở vị trí trung tâm, vừa là mục tiêu, vừa là động lực của phát triển, thì mọi chính sách phát triển đều phải hướng tới nâng cao chất lượng cuộc sống và phát huy tối đa tiềm năng con người Việt Nam.

        Kỷ nguyên vươn mình của dân tộc cũng đặt ra yêu cầu cao hơn đối với vai trò lãnh đạo, quản lý và trách nhiệm của cả hệ thống chính trị. Khát vọng phồn vinh, hạnh phúc chỉ có thể trở thành hiện thực khi được cụ thể hóa bằng chiến lược đúng đắn, thể chế phù hợp, bộ máy tinh gọn, hiệu lực, hiệu quả và đội ngũ cán bộ có bản lĩnh, trí tuệ, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm vì lợi ích chung. Đồng thời, khát vọng ấy phải được lan tỏa sâu rộng trong toàn xã hội, trở thành động lực tinh thần mạnh mẽ thúc đẩy mỗi người dân chủ động học tập, lao động sáng tạo và cống hiến.

        Có thể khẳng định, kỷ nguyên vươn mình của dân tộc là giai đoạn hội tụ đầy đủ thời cơ, điều kiện và khát vọng để Việt Nam bứt phá, phát triển mạnh mẽ hơn bao giờ hết. Khát vọng phồn vinh, hạnh phúc không chỉ là mục tiêu, mà còn là lời hiệu triệu đối với toàn dân tộc, khơi dậy ý chí tự cường, tinh thần đổi mới sáng tạo và khát vọng vươn lên, đưa đất nước tiến bước vững chắc trên con đường phát triển nhanh và bền vững trong thế kỷ XXI.

        Nhìn lại chặng đường từ năm 1946 đến nay, có thể thấy rõ sự tiếp nối và phát triển không ngừng của khát vọng dân tộc. Khát vọng bảo vệ độc lập dân tộc là nền tảng, là điểm khởi đầu; khát vọng thống nhất đất nước là bước phát triển tất yếu; khát vọng đổi mới và phát triển là yêu cầu khách quan của thời kỳ hòa bình và khát vọng phồn vinh, hạnh phúc trong kỷ nguyên vươn mình là đỉnh cao mới của tư duy phát triển quốc gia.

        Điều không thay đổi xuyên suốt các giai đoạn là tinh thần tự lực, tự cường và ý chí vươn lên của dân tộc Việt Nam. Trong bất kỳ hoàn cảnh nào, khát vọng dân tộc cũng gắn liền với vận mệnh đất nước, với lợi ích của nhân dân, và với trách nhiệm lịch sử của mỗi thế hệ.

        Khát vọng phồn vinh, hạnh phúc không thể tự thân trở thành hiện thực nếu thiếu hành động cụ thể, thiếu sự nỗ lực bền bỉ của toàn xã hội. Thế hệ hôm nay không phải đối mặt với bom đạn chiến tranh, nhưng đang đứng trước những thách thức mới về cạnh tranh, tụt hậu, an ninh phi truyền thống và biến động toàn cầu. Bảo vệ độc lập dân tộc trong bối cảnh mới không chỉ là bảo vệ chủ quyền lãnh thổ, mà còn là bảo vệ độc lập về kinh tế, tự chủ về công nghệ, giữ vững bản sắc văn hóa và con đường phát triển đã lựa chọn.

        Mỗi cán bộ, đảng viên và mỗi người dân đều là chủ thể hiện thực hóa khát vọng dân tộc bằng hành động cụ thể trong lao động, học tập, sáng tạo và cống hiến. Khi khát vọng chung được chuyển hóa thành mục tiêu, chương trình và hành động nhất quán, sức mạnh tổng hợp của cả dân tộc sẽ được phát huy ở mức cao nhất.

        Từ khát vọng bảo vệ độc lập dân tộc vang lên trong đêm lịch sử ngày 19/12/1946 đến khát vọng phồn vinh, hạnh phúc trong kỷ nguyên vươn mình hôm nay là một hành trình dài, đầy gian nan nhưng vô cùng vẻ vang của dân tộc Việt Nam. Đó là hành trình của ý chí, bản lĩnh và trí tuệ; là minh chứng sinh động cho chân lý: khi khát vọng dân tộc đúng đắn, được dẫn dắt bởi tư duy chiến lược và được hiện thực hóa bằng hành động kiên trì, thì không có thử thách nào là không thể vượt qua, “vì một nước Việt Nam hòa bình, độc lập, dân chủ, giàu mạnh, phồn vinh, văn minh, hạnh phúc, vững bước đi lên chủ nghĩa xã hội”[3]./.

 

[1] Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2000, T.8, tr.160.

[2] Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2011, T.15, tr.131.

[3] https://dangcongsan.org.vn/upload/2006988/fck/hoaltt/Du%20thao%20Bao%20cao%20chinh%20tri%20(1).pdf