Khi công việc đồng áng vùng Tây Bắc khép lại, người Lự lại tổ chức Lễ cúng hồn trâu để tri ân “người bạn” gắn bó qua mùa vụ vất vả. Từ nghi lễ giản dị ấy mở ra cả một thế giới văn hóa đặc sắc. Đây không chỉ là nghi lễ tín ngưỡng mà còn là tấm gương phản chiếu quan niệm sống, cách ứng xử nhân văn với thiên nhiên, lao động và cộng đồng người Lự. Khám phá nghi lễ này chính là hành trình tìm hiểu những giá trị cốt lõi làm nên bản sắc văn hóa dân tộc.

Lễ cúng hồn trâu của người Lự ở Tây Bắc. Ảnh minh họa.
Lễ cúng hồn trâu – Nghi lễ phản ánh thế giới quan của người Lự
Đối với cư dân canh tác lúa nước lâu đời như người Lự ở vùng thung lũng Tây Bắc, con trâu giữ một vị trí vô cùng đặc biệt. Trâu không đơn thuần là sức kéo phục vụ cày bừa hay khai khẩn ruộng đồng, mà còn là trụ cột của sản xuất nông nghiệp, biểu tượng cho của cải, sự no đủ và thịnh vượng của mỗi gia đình. Trong ca dao, tục ngữ dân gian của nền văn minh lúa nước, con trâu được ví như “đầu cơ nghiệp”. Với người Lự, trâu được trân trọng gọi là “ông trâu” – người bạn đồng hành trung thành cùng con người dầm mưa nắng, vượt qua những ngày lao động cực nhọc trên đồng ruộng.
Lễ cúng hồn trâu (tiếng Lự gọi là Sú Khon Khoài) thường diễn ra sau khi công việc gieo cấy khép lại hoặc trước khi bắt đầu một mùa vụ mới. Trước ngày lễ, thầy cúng họp bàn với đàn ông trong bản để thống kê số lượng trâu và phân công chuẩn bị lễ vật. Mâm lễ cúng được chuẩn bị trang trọng và chu đáo, gồm lợn đực đen tuyền, gà trống hiến tế, xôi, gạo, thóc, muối, cỏ non, nước sạch, nước quả bồ kết, rượu sáp ong cùng cuộn chỉ buộc cổ tay.
Nghi lễ trải qua các bước chính: các chủ trâu lên bãi chăn thả chung (sàng khoài) dắt trâu về trong tiếng trống chiêng và điệu xòe rộn rã; thầy cúng tiến hành nghi thức cúng vai trâu (mô phỏng động tác tháo ách), dâng mâm cúng hồn trâu và thực hiện tục buộc chỉ đỏ lên sừng trâu cũng như cổ tay chủ nhà.

Tái hiện lễ Sú Khon Khoài (Cúng hồn trâu) ở xã Bản Hon, huyện Tam Đường (cũ). Ảnh: Báo Lai Châu.
Đằng sau các nghi thức ấy là ý nghĩa nhân văn sâu sắc: lễ cúng là dịp để gia chủ bày tỏ lòng tạ ơn sự cống hiến bền bỉ của vật nuôi; gửi lời “xin lỗi” trâu vì những lần lỡ lời quở trách hay quất roi trong lúc làm việc vất vả; đồng thời cầu mong thần linh ban sức khỏe cho đàn trâu, giúp mùa màng sau luôn tốt tươi, no ấm và bình an cho bản làng.
Điểm cốt lõi làm nên chiều sâu của Lễ Sú Khon Khoài nằm ở quan niệm vạn vật hữu linh của người Lự. Người Lự tin rằng muôn loài đều có linh hồn và vía. Lời khấn của thầy cúng gửi gắm ước nguyện “hồn trâu về với trâu, hồn người về với người” để vạn vật đều đạt được sự cân bằng, thanh thản.
Không nên chỉ nhìn nhận Sú Khon Khoài thuần túy dưới góc độ tín ngưỡng hay phong tục cổ xưa. Nghi lễ này chính là một biểu hiện văn hóa truyền thống chứa đựng đạo đức sinh thái nhân văn. Qua việc tôn trọng sự sống của vật nuôi, người Lự thể hiện thái độ ứng xử khiêm nhường, biết ơn đối với thiên nhiên và thiết lập sự hài hòa bền vững giữa con người, lao động với muôn loài xung quanh.
Từ lễ cúng hồn trâu nhìn rộng ra bản sắc văn hóa người Lự
Nhìn từ góc độ văn hóa lao động, Lễ cúng hồn trâu chính là điểm tựa kết tinh tri thức mưu sinh và đạo lý ứng xử của cư dân canh tác lúa nước lâu đời ở các thung lũng Tây Bắc. Để phục vụ sản xuất trên địa hình đồi núi phức tạp, người Lự đã sớm sáng tạo ra hệ thống phai, mương dẫn thủy nhập điền, khéo léo đào những con mương uốn lượn lách qua nhiều sườn đồi để đưa nước về ruộng. Trong hành trình sinh kế nhọc nhằn ấy, tinh thần tương trợ giữa các gia đình, dòng họ luôn được coi trọng. Khi công việc đồng áng khép lại, nghi lễ Sú Khon Khoài vang lên không chỉ để mừng thành quả gieo cấy mà còn là sự thực hành đạo lý biết ơn sâu sắc. Người Lự không coi mùa màng bội thu là thành quả riêng của sức người, mà là sự giao hòa, hợp lực trọn vẹn giữa con người, sự cống hiến của vật nuôi và sự chở che linh thiêng của đất trời.

Chương trình nghệ thuật tại Lễ khai mạc ngày hội do địa phương tổ chức. Ảnh: Trang thông tin điện tử xã Bình Lư, tỉnh Lai Châu.
Sâu xa hơn, nghi lễ này còn phác họa nét đẹp trong văn hóa ứng xử với thiên nhiên của cộng đồng người Lự. Con người nơi đây tự nhận mình là một phần nhỏ bé của tự nhiên, sống khiêm nhường và biết ơn từng sinh thể. Từ nghi thức tạ ơn và “xin lỗi” con trâu sau mùa vụ vất vả, cho đến tục lệ cúng rừng thiêng (đóng căm) hay giữ gìn nguồn nước bản làng, người Lự đã hình thành nên một ý thức sinh thái tự giác. Lối ứng xử nhân văn này không chỉ giúp duy trì sự cân bằng môi trường qua nhiều thế hệ mà còn gợi mở những giá trị thời đại sâu sắc đối với quan điểm phát triển xanh và bền vững ngày nay.
Bên cạnh đó, Lễ Sú Khon Khoài còn đóng vai trò như một sợi dây thắt chặt văn hóa cộng đồng. Nghi thức tâm linh này không bao giờ diễn ra biệt lập ở từng cá nhân mà luôn cuốn hút toàn thể bản làng cùng tham gia. Từ những buổi họp bản đầu xóm để người già, thầy cúng và thanh niên cùng bàn bạc phân công chuẩn bị lễ vật, cho đến khi bước vào phần hội với tiếng trống chiêng rộn rã, những điệu xòe đoàn kết tươi vui cùng các trò chơi dân gian như kéo co, tung còn, đẩy gậy... tất cả đã tạo nên một không gian sinh hoạt cộng đồng ấm áp tình làng nghĩa xóm. Thông qua dòng chảy sinh hoạt chung ấy, nghi lễ trở thành một “lớp học văn hóa” không lời đầy hiệu quả, nơi các nghệ nhân và thế hệ đi trước trực tiếp trao truyền cho lớp trẻ những tri thức dân gian, quy chuẩn đạo đức và niềm tự hào tộc người.
Nhiều hơn một nghi lễ đơn lẻ, Sú Khon Khoài thực chất chỉ là một “mảnh ghép” tiêu biểu trong tổng thể kho tàng di sản bản sắc vô cùng đa dạng của đồng bào Lự. Bản sắc ấy hiện hữu sinh động trong kiến trúc nhà sàn (hươn) truyền thống hai mái hoặc bốn mái lợp gianh với phần mái trước kéo dài che trùm hàng hiên; trong đôi bàn tay khéo léo của người phụ nữ qua nghề dệt thổ cẩm, nhuộm chàm, thêu ghép hoa văn hình quả trám tinh xảo trên tà áo xẻ ngực vạt xòe rẻ quạt và chiếc váy ống nhiều tầng. Bản sắc ấy còn đong đầy duyên dáng qua chiếc khăn quấn nghiêng, tục nhuộm răng đen huyền, việc lưu giữ chữ viết cổ Pali trên lá cọ, hay những làn điệu dân ca Khắp Lử da diết hòa cùng tiếng sáo đôi trong đêm trăng. Cùng với đó là nét ẩm thực phong phú mang hương vị núi rừng như xôi nếp đồ, cá nướng Pa pỉnh, cá vùi tro Pa ép, lam nhọ và chén rượu sáp ong thơm nồng. Tất cả hòa quyện tạo nên bức tranh văn hóa Lự vừa nhân văn, vừa mộc mạc mà độc đáo giữa đại ngàn Tây Bắc.

Các thầy cúng thực hiện nghi lễ cúng hồn trâu. Ảnh: Trang thông tin điện tử xã Bình Lư, tỉnh Lai Châu.
Gìn giữ bản sắc người Lự trong đời sống hiện đại
Bước vào thời kỳ hội nhập và phát triển kinh tế - xã hội, đời sống của đồng bào Lự ở vùng Tây Bắc đã và đang trải qua những bước chuyển mình nhanh chóng. Sự xuất hiện ngày càng phổ biến của máy móc cơ giới hóa trong nông nghiệp đã làm thay đổi phương thức canh tác truyền thống, khiến vai trò sức kéo của con trâu bớt đi phần nặng nề và số lượng đàn trâu ở các bản làng có xu hướng giảm bớt. Bên cạnh đó, quá trình đô thị hóa cùng sự chuyển dịch sinh kế sang làm công nhân tại các nhà máy, khu công nghiệp hay đi làm thuê xa nhà đã tác động không nhỏ đến nhịp sống của thế hệ trẻ. Nhiều thanh thiếu niên người Lự hiện nay ít có cơ hội tiếp xúc hoặc chưa mặn mà với việc thực hành các nghi lễ cổ truyền, học kỹ thuật dệt thêu thổ cẩm, cũng như dần thay đổi thói quen mặc sắc phục dân tộc trong sinh hoạt hằng ngày. Trước tác động của giao lưu văn hóa và cơ chế thị trường, một số di sản phi vật thể như các làn điệu dân ca, điệu múa cổ, nhạc cụ dân tộc và kho tàng tri thức dân gian đứng trước nguy cơ mai một hoặc bị “thương mại hóa”, dễ biến nghi lễ tâm linh cộng đồng thành những tiết mục biểu diễn đơn thuần.
Để vượt qua những thách thức ấy, công tác bảo tồn và phát huy bản sắc văn hóa người Lự cần được thực hiện một cách tự giác và bền vững, đặt chính cộng đồng vào vị trí chủ thể của di sản. Nhiều chính sách của Đảng và Nhà nước đã quan tâm bảo tồn văn hóa các dân tộc thiểu số, tạo điều kiện phục dựng lễ hội, truyền dạy nghề truyền thống và phát huy vai trò của nghệ nhân trong gìn giữ di sản. Trong hành trình đó, đội ngũ nghệ nhân am hiểu tri thức bản địa – những “báu vật sống” của bản làng – cùng các già làng, trưởng bản và môi trường gia đình, dòng họ giữ vai trò nòng cốt trong việc khơi dậy niềm tự hào tộc người và trao truyền di sản cho thế hệ kế cận.

Hoạt động thi trình diễn nghề dệt thổ cẩm trong Lễ hội Sú Khon Khoài. Ảnh: Trang thông tin điện tử xã Bình Lư, tỉnh Lai Châu.
Song song với bảo tồn tâm linh, việc phát triển mô hình du lịch cộng đồng có trách nhiệm tại các bản trọng điểm như Bản Hon, Bản Thẳm (huyện Tam Đường cũ) đã mở ra hướng đi thiết thực, giúp cải thiện thu nhập cho người dân từ chính các sản phẩm văn hóa đặc sắc như kiến trúc nhà sàn, trang phục thổ cẩm, dân ca dân vũ và ẩm thực núi rừng. Đồng thời, việc tích cực lồng ghép tuyên truyền, giáo dục di sản văn hóa Lự vào trường học giúp bồi đắp tình yêu cội nguồn cho học sinh ngay từ khi còn nhỏ. Những giải pháp đồng bộ này hoàn toàn thống nhất với chủ trương của Đảng về xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc; xem văn hóa vừa là nền tảng tinh thần của xã hội, vừa là nguồn lực nội sinh quan trọng cho sự phát triển bền vững của đất nước.
Lễ cúng hồn trâu không chỉ là nghi lễ nông nghiệp đơn thuần, mà là nơi kết tinh sâu sắc văn hóa lao động, đạo lý biết ơn, tinh thần gắn kết cộng đồng và lối sống hòa hợp với thiên nhiên của người Lự. Giữa dòng chảy hiện đại, tập quán bình dị này nhắc nhở rằng bản sắc văn hóa không chỉ hiện diện ở những di sản hay lễ hội lớn, mà hiện hữu ngay trong cách con người trân trọng nguồn sống. Giữ gìn Lễ cúng hồn trâu chính là bảo tồn một cái nhìn nhân văn về mối quan hệ giữa con người, lao động và tự nhiên, góp phần làm giàu bản sắc văn hóa Việt Nam và bồi đắp nguồn lực tinh thần cho sự phát triển bền vững.
Tài liệu tham khảo:
- Bộ Dân tộc và Tôn giáo, “Người Lự”, Cổng thông tin điện tử Bộ Dân tộc và Tôn giáo, ngày 04/11/2015.
- Tuấn Hưng (2024), “Nghi lễ 'Sú Khon Khoài' của người Lự”, Báo Nhân Dân điện tử, ngày 30/04/2024.
- Nguyễn Thu Trang (2023), “Hoạt động sinh kế của người Lự ở xã Bản Hon, huyện Tam Đường, tỉnh Lai Châu hiện nay”, Tạp chí Dân tộc học (Viện Dân tộc học), Số 5, tr. 77–87.
- H.T (2024), “Bảo tồn, phát huy giá trị văn hóa của dân tộc Lự”, Báo Lai Châu điện tử, ngày 14/06/2024.
