Ngày 2 tháng 9 năm 1945, tại Quảng trường Ba Đình lịch sử, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã thay mặt Chính phủ lâm thời đọc bản Tuyên ngôn độc lập, khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (nay là nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam). Đây là văn kiện chính trị - pháp lý tối cao, là áng thiên cổ hùng văn hội tụ tinh hoa tư tưởng, ý chí sắt đá và khát vọng cháy bỏng về quyền tự do, độc lập của dân tộc Việt Nam. Tuy nhiên, thời gian qua, các thế lực thù địch, phản động và cơ hội chính trị đã tung ra nhiều luận điệu xuyên tạc, bóp méo lịch sử, phủ nhận nội dung và giá trị to lớn của bản Tuyên ngôn độc lập. Nhận diện và đấu tranh phản bác kịp thời, hiệu quả những quan điểm sai trái này là nhiệm vụ cấp bách nhằm bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng và sự thật lịch sử dân tộc.

Nhận diện những quan điểm sai trái, thù địch về "Tuyên ngôn độc lập"

Thời gian qua, sự chống phá của các thế lực thù địch đối với Tuyên ngôn độc lập thường tinh vi, xảo quyệt, núp bóng dưới danh nghĩa "nghiên cứu khoa học", "góc nhìn khách quan" hoặc "đóng góp phản biện". Các quan điểm sai trái chủ yếu tập trung vào các luận điểm sau:

Một là, xuyên tạc nguồn gốc tư tưởng, cho rằng Tuyên ngôn độc lập chỉ là sự "sao chép" nguyên văn các bản tuyên ngôn phương Tây. Các đối tượng thường vin vào việc Chủ tịch Hồ Chí Minh trích dẫn mở đầu hai bản Tuyên ngôn Độc lập năm 1776 của Hợp chủng quốc Hoa KỳTuyên ngôn Nhân quyền và Dân quyền năm 1791 của Cách mạng Pháp. Từ đó, chúng cố tình vu cáo rằng Chủ tịch Hồ Chí Minh “không có sự sáng tạo”, tư tưởng trong bản Tuyên ngôn “không mang bản sắc dân tộc Việt Nam” mà chỉ là sự "vay mượn", "gọt giũa" từ các tư tưởng tư sản phương Tây.

Hai là, phủ nhận tính chính danh của Chính phủ lâm thời. Một số luận điệu cho rằng Cách mạng Tháng Tám năm 1945 chỉ là một sự "ăn may" trong khoảng trống quyền lực khi phát xít Nhật đầu hàng Đồng minh, còn Việt Minh chưa đủ tư cách đại diện cho toàn dân tộc để tuyên bố độc lập. Từ đó, chúng bóp méo rằng bản Tuyên ngôn ra đời “không phản ánh ý nguyện thực sự của đa số người dân lúc bấy giờ” mà chỉ là “sản phẩm ý chí của một đảng phái đơn lẻ”.

Ba là, chia rẽ tư tưởng Hồ Chí Minh với chủ nghĩa xã hội và thực tiễn cách mạng Việt Nam. Các thế lực thù địch tách rời Tuyên ngôn độc lập khỏi quá trình phát triển của cách mạng Việt Nam. Chúng lập luận rằng những cam kết về "tự do, bình đẳng, bác ái" hay "quyền mưu cầu hạnh phúc" trong bản Tuyên ngôn năm 1945 đã bị "phản bội" hoặc "bóp nghẹt" trong các giai đoạn xây dựng chủ nghĩa xã hội sau này, nhằm làm giảm sút niềm tin của nhân dân vào con đường mà Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chọn.

Bốn là, phủ nhận giá trị và tầm vóc quốc tế của Tuyên ngôn độc lập. Có quan điểm cho rằng Tuyên ngôn độc lập chỉ là một tuyên bố mang tính thủ tục hành chính nhất thời của một nhóm người (Việt Minh) nhắm vào nội bộ nước ta lúc bấy giờ để giành chính quyền, không có sức nặng pháp lý đối với cộng đồng quốc tế hay các cường quốc phương Tây. Chúng xuyên tạc rằng vào thời điểm năm 1945, nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa không được bất kỳ quốc gia lớn nào trên thế giới công nhận, do đó bản Tuyên ngôn chỉ là "tiếng nói đơn độc", không có giá trị trong luật pháp và quan hệ quốc tế thời điểm đó. Cũng có ý kiến cho rằng những giá trị của bản Tuyên ngôn độc lập chỉ có ý nghĩa lịch sử trong năm 1945, còn trong thời đại hội nhập quốc tế và toàn cầu hóa hiện nay, bản Tuyên ngôn đã "lỗi thời", không còn sức sống và cần phải được "định vị lại" theo các chuẩn mực chính trị phương Tây.

Các luận điệu xuyên tạc và phủ nhận giá trị của bản Tuyên ngôn độc lập không đơn thuần là những ý kiến phản biện lịch sử cực đoan mà thực chất là mũi tấn công nguy hiểm hướng trực tiếp vào nền tảng chính trị và sự trường tồn của chế độ. Do đó, những luận điệu này là một hình thức "xâm lược mềm" về mặt tư tưởng nên cần có những luận cứ xác đáng để đấu tranh phản bác.

Giá trị không thể phủ nhận của một văn kiện chính trị - pháp lý quan trọng

Tuyên ngôn độc lập trước hết là sự vận dụng và phát triển sang tạo các tư tưởng văn minh của nhân loại.

Ngay từ mở đầu Tuyên ngôn độc lập, việc Chủ tịch Hồ Chí Minh trích dẫn hai bản tuyên ngôn của Mỹ và Pháp không phải là sự sao chép máy móc, mà là một bước tư duy chiến lược mang tầm vóc triết lý sâu sắc. Người đã sử dụng chính "gậy ông đập lưng ông", lấy những nguyên lý bất hủ do chính người phương Tây đề ra để đặt cơ sở pháp lý không thể chối cãi cho quyền tự do, độc lập của một dân tộc thuộc địa.

Bằng nhãn quan chính trị sắc sảo, Người đã có một bước phát triển sáng tạo vĩ đại khi nâng tầm quyền con người thành quyền dân tộc: "Tất cả các dân tộc trên thế giới đều sinh ra có quyền bình đẳng; dân tộc nào cũng có quyền sống, quyền sung sướng và quyền tự do". Đây là sự bổ sung lý luận mang tính cách mạng, chuyển hóa quyền tự nhiên của cá nhân thành quyền thiêng liêng của cả một quốc gia - dân tộc đang chịu ách áp bức. Do đó, luận điệu cho rằng bản Tuyên ngôn độc lập là “sao chép” hoàn toàn phiến diện và phủ nhận tư duy độc lập, sáng tạo của Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Tính chính danh tuyệt đối của Cách mạng Tháng Tám và Chính phủ lâm thời

Về mặt pháp lý, Tuyên ngôn độc lập là văn kiện hội tụ ý chí của toàn dân tộc. Cách mạng Tháng Tám không phải là sự “ăn may” mà là kết quả tất yếu của phong trào đấu tranh kiên cường, bền bỉ suốt 15 năm dưới sự lãnh đạo đúng đắn, sáng suốt của Đảng Cộng sản Đông Dương và lãnh tụ Hồ Chí Minh.

Khi đọc Tuyên ngôn độc lập, Chủ tịch Hồ Chí Minh không đại diện cho riêng một giai cấp hay đảng phái nào, mà đại diện cho quốc dân đồng bào, cho toàn thể khối đại đoàn kết toàn dân tộc từ Bắc chí Nam. Chính sự chuyển giao quyền lực từ chế độ phong kiến suy tàn và sự sụp đổ của phát xít Nhật vào tay nhân dân ta đã tạo nên tính chính danh hoàn toàn hợp hiến, hợp pháp cho Chính phủ lâm thời nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Mọi luận điệu phủ nhận tính đại diện hay gán ghép Cách mạng Tháng Tám là "ăn may" đều đi ngược lại sự thật lịch sử khách quan.

Khát vọng độc lập dân tộc được hiện thực hóa và được bảo vệ bằng ý chí kiên cường.

Thực tiễn lịch sử Việt Nam từ năm 1945 đến nay là minh chứng đanh thép nhất bác bỏ luận điệu cho rằng giá trị của Tuyên ngôn độc lập chỉ mang tính nhất thời hay bị "phản bội". Ngay sau khi bản Tuyên ngôn ra đời, nhân dân Việt Nam đã phải đương đầu với muôn vàn khó khăn, thử thách "ngàn cân treo sợi tóc" và tiến hành những cuộc kháng chiến trường kỳ chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược để giữ vững từng tấc đất thiêng liêng của Tổ quốc, bảo vệ trọn vẹn những quyền lợi đã được ghi nhận trong Tuyên ngôn.

Hơn thế nữa, tư tưởng "Độc lập - Tự do - Hạnh phúc" được nêu trong Tuyên ngôn chính là ngọn đuốc soi đường cho toàn bộ công cuộc đổi mới, phát triển đất nước và hội nhập quốc tế ngày nay. Những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử mà Việt Nam đạt được dưới sự lãnh đạo của Đảng là minh chứng sinh động khẳng định các giá trị của bản Tuyên ngôn không hề lỗi thời, mà ngày càng được khẳng định và làm phong phú thêm trong thực tiễn xây dựng một nước Việt Nam "dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh".

Một văn kiện pháp lý quốc tế sắc bén khẳng định quyền lợi, vị thế chính đáng của dân tộc Việt Nam.

Dưới góc độ luật pháp quốc tế và quan hệ quốc tế thời điểm năm 1945, Tuyên ngôn độc lập chứa đựng những luận điểm và bước đi pháp lý mang tầm nhìn chiến lược vượt thời đại của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Khi mở đầu bằng việc trích dẫn Tuyên ngôn Độc lập năm 1776 của Mỹ và Tuyên ngôn Nhân quyền và Dân quyền năm 1791 của Pháp, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khôn khéo sử dụng chính các văn bản nền tảng của hệ thống tư pháp phương Tây để làm tiền đề logic, đồng thời tạo ra một thế trận pháp lý vững chắc. Nếu các nước lớn phương Tây (như Mỹ và Pháp) thừa nhận các quyền đó là "bất khả xâm phạm" đối với công dân và quốc gia họ, thì họ không có bất kỳ cơ sở pháp lý hay đạo lý nào để phủ nhận quyền đó đối với nhân dân Việt Nam.

Ở phần cuối bản Tuyên ngôn, Chủ tịch Hồ Chí Minh đưa ra một lời cam kết mang tính pháp lý ràng buộc cao độ đối với cộng đồng quốc tế:“Nước Việt Nam có quyền hưởng tự do và độc lập, và sự thật đã thành một nước tự do độc lập. Toàn thể dân tộc Việt Nam quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mệnh và của cải để giữ vững quyền tự do, độc lập ấy”. Đây không chỉ là lời tuyên bố về ý chí, mà còn là sự khẳng định về năng lực tự vệ, tính chính danh của chính phủ trong việc thực thi quyền tài định tối cao trên toàn bộ lãnh thổ quốc gia theo luật pháp quốc tế hiện đại.

Như vậy, dưới lăng kính luật pháp quốc tế, bản Tuyên ngôn độc lập năm 1945 là một kiệt tác ngoại giao và pháp lý. Nó biến một dân tộc từng bị gạt ra ngoài lề bản đồ chính trị thế giới thành một chủ thể độc lập, bình đẳng, có đầy đủ quyền tự quyết theo đúng hiến chương và các nguyên tắc tiến bộ của nhân loại.

Tuyên ngôn độc lập do Chủ tịch Hồ Chí Minh soạn thảo và công bố không chỉ là văn kiện khai sinh ra nước Việt Nam mới, mà còn là bản tuyên ngôn của thời đại, cổ vũ mạnh mẽ phong trào giải phóng dân tộc trên toàn thế giới. Nhận diện rõ bản chất thâm độc của các quan điểm sai trái, thù địch và chủ động đấu tranh phản bác bằng hệ thống luận cứ khoa học, lý luận và thực tiễn vững chắc để từ đó tiếp tục bồi đắp niềm tin, khơi dậy lòng tự hào dân tộc, quyết tâm bảo vệ vững chắc thành quả cách mạng và đưa đất nước vững bước tiến đi lên chủ nghĩa xã hội.