Trong tiến trình phát triển mới của đất nước, văn hóa được nhìn nhận như một trụ cột song hành cùng kinh tế và chính trị. Nghị quyết 80-NQ/TW ngày 07/01/2026 về phát triển văn hóa Việt Nam gợi mở cách tiếp cận mới đối với những địa phương đặc thù như Cao Bằng - nơi bản sắc các dân tộc thiểu số vừa là giá trị cần gìn giữ, vừa là nguồn lực nội sinh cần phát huy cho phát triển bền vững.

Nghị quyết số 80-NQ/TW tái định hình cách tiếp cận về văn hóa

Ở các vùng dân tộc thiểu số, văn hóa không tồn tại như một lĩnh vực riêng biệt, mà hòa vào mọi phương diện đời sống, từ cách con người tổ chức sinh hoạt, ứng xử, đến cách họ gìn giữ ký ức và truyền lại cho thế hệ sau. Chính vì vậy, khi nói đến đời sống văn hóa là nói đến “hệ sinh thái tinh thần” của cộng đồng.

Cao Bằng là một tỉnh miền núi phía Bắc, với dân số 573.199 người[1], đa số dân cư là đồng bào dân tộc thiểu số. Tỉnh có kho tàng di sản văn hóa đa dạng với 396 di sản, từ những làn điệu then, tiếng đàn tính của người Tày, Nùng đã được Tổ chức Giáo dục, Khoa học vă Văn hóa Liên hợp quốc (UNESCO) vinh danh, đến những nghi lễ cấp sắc huyền bí của người Dao hay nghệ thuật khèn Mông đặc sắc, những không gian văn hóa gắn với lịch sử cách mạng. Những giá trị ấy không chỉ tạo nên bản sắc văn hóa riêng, mà còn góp phần định hình ý thức cộng đồng của người dân Cao Bằng qua nhiều thế hệ. Tuy nhiên, trong nhịp chuyển nhanh của đời sống hiện đại, những “đứt gãy âm thầm” đang dần xuất hiện: tiếng nói, chữ viết của đồng bào dân tộc thiểu số ít được sử dụng, tri thức dân gian dần bị quên lãng, một số lễ hội truyền thống bị biến dạng khi chạy theo yếu tố thương mại, khoảng cách về điều kiện hưởng thụ văn hóa giữa các khu vực, nhóm dân cư ngày càng rõ nét hơn. Thực trạng đó đặt ra yêu cầu cho Cao Bằng phải có một định hướng chiến lược đồng bộ đủ tầm và đủ sâu để bảo tồn và phát huy di sản văn hóa, để văn hóa thực sự trở thành nguồn lực nội sinh cho sự phát triển của địa phương.

Ngày 07/01/2026, Bộ Chính trị đã ban hành Nghị quyết số 80-NQ/TW về phát triển văn hóa Việt Nam với những nội dung mới thể hiện sự phát triển về mặt lý luận của Đảng ta về văn hóa, đặt văn hóa vào mối liên hệ chặt chẽ với toàn bộ quá trình phát triển. Văn hóa không chỉ để gìn giữ, mà còn tham gia trực tiếp vào việc tạo ra giá trị mới. Với cách tiếp cận này, vùng đồng bào dân tộc thiểu số không còn được nhìn đơn thuần như “khu vực cần hỗ trợ”, mà trở thành không gian giàu tiềm năng, nơi các giá trị truyền thống có thể được chuyển hóa thành động lực phát triển khi được khai thác đúng hướng.

Ảnh: Hát Then - đàn tính, một hình thức sinh hoạt có vị thế quan trọng trong tín ngưỡng của người Tày (Nguồn: Báo Cao Bằng điện tử)

Vận dụng Nghị quyết số 80-NQ/TW trong phát huy giá trị văn hóa vùng đồng bào dân tộc thiểu số tỉnh Cao Bằng

Thứ nhất, bảo tồn theo hướng “động”, đưa di sản trở lại đời sống.

Một trong những vai trò cốt lõi của Nghị quyết 80-NQ/TW là thay đổi phương thức bảo tồn, thay vì giữ gìn di sản theo kiểu trưng bày, sáng tạo điều kiện để di sản tiếp tục “sống” trong đời sống cộng đồng. Những làn điệu Then, Lượn hay các lễ hội nông nghiệp truyền thống chỉ thực sự có giá trị khi gắn với đời sống thường nhật, chứ không phải chỉ xuất hiện trên sân khấu. Việc truyền dạy cho thế hệ trẻ, duy trì không gian sinh hoạt văn hóa tại làng bản chính là cách giữ cho di sản không bị tách rời khỏi cộng đồng.

Nghị quyết số 80-NQ/TW đồng thời mở ra cách tiếp cận mới khi gắn bảo tồn với phát triển kinh tế di sản, du lịch văn hóa, chuyển hóa tài nguyên văn hóa thành lợi thế cạnh tranh. Thực tiễn tại các bản làng người Tày, Dao, Lô Lô cho thấy, khi du lịch cộng đồng phát triển, đồng bào cũng nhận thức rõ hơn việc giữ gìn bản sắc văn hóa cũng chính là giữ sinh kế. Văn hóa từ chỗ là “di sản” cần bảo tồn đã trở thành “nguồn lực nội sinh” cho giảm nghèo bền vững và phát triển kinh tế - xã hội tại địa phương. Tuy nhiên, quá trình khai thác phải đặt trên nền tảng tôn trọng giá trị nguyên gốc, tránh xu hướng sân khấu hóa, thương mại hóa làm biến dạng bản sắc.

Thứ hai, xây dựng môi trường văn hóa và thiết chế văn hóa.

Nghị quyết 80-NQ/TW nhấn mạnh phát triển văn hóa từ cơ sở, phát huy vai trò chủ thể của Nhân dân trong xây dựng môi trường và thiết chế văn hóa. Tại Cao Bằng, định hướng này được cụ thể hóa khi các nhà văn hóa thôn, bản trở thành không gian sinh hoạt cộng đồng thiết thực, nơi duy trì dân ca, dân vũ, gìn giữ hát Then, đàn tính, hát Lượn của đồng bào Tày, Nùng. Không gian ấy không chỉ phục vụ nhu cầu văn hóa, thể thao mà còn kết nối cộng đồng, bồi đắp tình làng nghĩa xóm.

Cùng với đó, việc thực hiện hương ước, quy ước theo hướng văn minh, phù hợp phong tục đã góp phần loại bỏ hủ tục, xây dựng nếp sống lành mạnh. Các lễ hội truyền thống được tổ chức nền nếp, tiết kiệm nhưng vẫn bảo đảm giá trị bản sắc. Thực tiễn cho thấy, khi thiết chế văn hóa cơ sở được vận hành hiệu quả, gắn với nhu cầu người dân, sẽ tạo nền tảng để vừa giữ gìn truyền thống, vừa thích ứng với bối cảnh mới. Qua đó, văn hóa thực sự trở thành sợi dây gắn kết cộng đồng và động lực tinh thần cho phát triển bền vững.

Thứ ba, đảm bảo công bằng trong thụ hưởng văn hóa.

Một trong những yêu cầu xuyên suốt của Nghị quyết số 80-NQ/TW là bảo đảm quyền tiếp cận và thụ hưởng các giá trị văn hóa của mọi tầng lớp nhân dân, đặc biệt là đồng bào vùng sâu, vùng xa, vùng dân tộc thiểu số, qua đó thu hẹp khoảng cách trong hưởng thụ văn hóa giữa các nhóm cư dân. Với tỉnh miền núi như Cao Bằng, đây không phải nhiệm vụ dễ, song đã xuất hiện những chuyển biến tích cực: các hoạt động văn hóa cộng đồng được tổ chức thường xuyên hơn, đồng thời công nghệ số bắt đầu phát huy vai trò hỗ trợ, giúp người dân tiếp cận thông tin và sản phẩm văn hóa đa dạng hơn. Nhờ đó, không gian văn hóa không còn bị bó hẹp bởi địa lý và khoảng cách thụ hưởng văn hóa giữa các vùng, miền, nhóm dân cư cũng được thu hẹp, góp phần nâng cao đời sống tinh thần và củng cố sự gắn kết cộng đồng.

Là tỉnh biên giới nơi địa đầu Tổ quốc, Cao Bằng giữ vị trí đặc biệt quan trọng về quốc phòng và an ninh. Nghị quyết số 80-NQ/TW nhấn mạnh yêu cầu phát huy vai trò của văn hóa trong củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc, xây dựng “thế trận văn hóa” vững chắc từ cơ sở. Trong đời sống của đồng bào các dân tộc tỉnh Cao Bằng, những lễ hội truyền thống, sinh hoạt văn hóa cộng đồng hay ngày hội đại đoàn kết… không chỉ là những hoạt động văn hóa đơn thuần mà còn là sợi dây gắn kết cộng đồng, bồi đắp tinh thần đoàn kết giữa các dân tộc, gìn giữ các giá trị nghĩa tình, tương trợ và sự tôn trọng bản sắc giữa các dân tộc.

Khi đời sống văn hóa được chăm lo, bản sắc được tôn vinh và cộng đồng được gắn kết, đó cũng là nền tảng quan trọng để củng cố niềm tin của nhân dân, giữ vững ổn định chính trị - xã hội và góp phần bảo vệ vững chắc biên cương của Tổ quốc.

Hiện thực hóa Nghị quyết số 80-NQ/TW ở Cao Bằng đòi hỏi vận dụng linh hoạt, phù hợp với đặc thù tỉnh miền núi, biên giới đa dân tộc; tôn trọng sự đa dạng văn hóa và đặt người dân vào vị trí chủ thể gìn giữ, phát huy bản sắc. Cùng với đó, cần xây dựng đội ngũ cán bộ văn hóa tâm huyết, am hiểu phong tục, đổi mới phương thức hoạt động. Việc kết hợp hài hòa giữa bảo tồn văn hóa và phát triển kinh tế, nhất là du lịch, phải bảo đảm giữ vững giá trị cốt lõi, tránh thương mại hóa và bệnh hình thức. Nghị quyết 80-NQ/TW là định hướng quan trọng để Cao Bằng phát huy sức mạnh nội sinh của văn hóa, thúc đẩy phát triển bền vững./.         

 

[1] Tên gọi 56 phường, xã mới của Cao Bằng, https://vov.vn/chinh-tri/ten-goi-56-phuong-xa-moi-cua-cao-bang-post1193400.vov