Đầu năm 1946, trong bối cảnh mới ra đời, Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa phải đối mặt với thù trong, giặc ngoài, Chủ tịch Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã phải ký với đại diện Chính phủ Pháp bản Hiệp định sơ bộ, tránh việc phải đối đầu với nhiều kẻ thù cùng một lúc và có thêm thời gian chuẩn bị cuộc kháng chiến khó tránh khỏi. Chúng ta không thể tránh được việc phải đối diện với cuộc chiến tranh xâm lược của Pháp, nhưng chúng ta có thể trì hoãn nó, bằng ngoại giao 

Thế “Nghìn cân treo sợi tóc” và chủ trương của Đảng

Sau khi giành chính quyền từ tay phát xít Nhật, ngày 02/9/1945, tại Hà Nội, Hồ Chí Minh đọc bản Tuyên ngôn Độc lập, khai sinh nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.

Tuy độc lập đã giành được, nhưng Việt Nam ngay lập tức phải đối mặt với vô vàn khó khăn và thách thức về mọi mặt.

Về quân sự, ở miền Bắc, theo thỏa thuận của phe Đồng Minh, 20 vạn quân đội Trung Hoa dân quốc tràn vào miền Bắc Việt Nam để giải giáp quân Nhật. Tuy nhiên, đội quân này âm mưu câu kết với các thế lực phản động người Việt, chủ yếu trong các đảng phái Việt Nam Quốc dân Đảng và Việt Nam Cách mạng Đồng minh Hội (Việt Quốc, Việt Cách) để lật đổ chính quyền cách mạng.

Ở miền Nam, được sự hậu thuẫn của Anh, quân Pháp quay trở lại xâm lược Việt Nam từ ngày 23/9/1945 tại Sài Gòn, sau đó từng bước mở rộng đánh chiếm Nam Bộ và Nam Trung Bộ.

Về kinh tế, hậu quả của chiến tranh, thiên tai, nhất là nạn đói cuối năm 1945, khiến đất nước lâm vào khủng hoảng nghiêm trọng.

Về chính trị, bộ máy chính quyền cách mạng còn non yếu, chưa được củng cố vững chắc và chưa được quốc tế công nhận rộng rãi.

Đó là bên trong, còn bên ngoài, Pháp và Trung Hoa Dân quốc “bắt tay” thỏa hiệp quyền lợi “trên lưng” Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Hiệp ước Hoa - Pháp được ký kết ngày 28/2/1946. Trong khi quân đội Trung Hoa dân quốc còn đang hiện diện ở miền Bắc, Pháp đã tiến hành đàm phán và ký kết Hiệp ước Hoa - Pháp với chính quyền Tưởng Giới Thạch.

Đó là sự thỏa hiệp, chia chác quyền lợi, không đếm xỉa gì đến vai trò của cách mạng Việt Nam. Pháp nhượng lại cho Trung Hoa dân quốc một số quyền lợi kinh tế ở Trung Quốc và các tô giới tại Việt Nam, đổi lại, quân đội Trung Hoa dân quốc chấp nhận cho quân Pháp vào miền Bắc Việt Nam thay thế mình để làm nhiệm vụ giải giáp quân Nhật.

Điều đó đặt Việt Nam Dân chủ Cộng hòa vào thế khó xử, cụ thể là nguy cơ đối đầu cùng lúc nhiều kẻ thù. Nếu Pháp đưa quân ra miền Bắc theo Hiệp ước Hoa - Pháp, Việt Nam sẽ phải đối mặt với quân Pháp ở miền Nam, cũng như quân Pháp và quân đội Trung Hoa dân quốc còn nấn ná chưa rút đi, cùng các lực lượng tay sai ở miền Bắc. Điều này vô cùng bất lợi cho lực lượng cách mạng còn non trẻ.

Đứng trước tình thế đó, Đảng Cộng sản Đông Dương và Chủ tịch Hồ Chí Minh nhận thấy cần phải có một sách lược khéo léo để tránh rơi vào thế bất lợi khi lực lượng ta chưa đủ mạnh.

Nhận định tình hình. Đảng ta cho rằng rằng Pháp đang cần Việt Nam để giải quyết vấn đề hậu chiến với quân đội Trung Hoa dân quốc, còn Trung Hoa dân quốc thì muốn trao đổi quyền lợi để Pháp đưa quân vào miền Bắc. Đây là cơ hội để ta phá vỡ liên minh Pháp - Hoa, chỉ tập trung đối phó với kẻ thù chính là thực dân Pháp.

Chủ tịch Hồ Chí Minh và Jean Sainteny (đứng giữa) đại diện Chính phủ Pháp cùng đại diện các nước Đồng minh nghe đọc văn bản Hiệp định sơ bộ ngày 6/3/1946 trước khi ký kết  (Ảnh tư liệu. BTLSQG)

Ban Thường vụ Trung ương Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đề ra chủ trương hòa hoãn tạm thời với Pháp để “đuổi” quân đội Trung Hoa dân quốc ra khỏi miền Bắc, giành thêm thời gian hòa bình để củ ng cố lực lượng, chuẩn bị cuộc kháng chiến lâu dài.

Chủ trương “hòa để tiến” không có nghĩa là từ bỏ độc lập, mà là tạm thời nhân nhượng để tạo điều kiện, tranh thủ thời gian, nhằm đạt được mục tiêu cao hơn là độc lập hoàn toàn và thống nhất đất nước.

Chính trong bối cảnh lịch sử cấp bách, phức tạp và đầy nguy nan đó, Hiệp định Sơ bộ ngày 06/03/1946 đã ra đời như một giải pháp chính trị, ngoại giao sáng suốt, thể hiện tầm nhìn chiến lược của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Nội dung chính của Hiệp định Sơ bộ

Chiều ngày 06/3/1946, tại Hà Nội, Chủ tịch Hồ Chí Minh thay mặt Chính phủ Việt Nam ký với đại diện Chính phủ Pháp là Jean Sainteny bản Hiệp định Sơ bộ với các điều khoản chính:

Về pháp lý, Chính phủ Pháp công nhận Việt Nam Dân chủ Cộng hòa là một quốc gia tự do, có Chính phủ, Nghị viện, quân đội và tài chính riêng, nằm trong Liên bang Đông Dương thuộc khối Liên hiệp Pháp.

Về quân sự, Chính phủ Việt Nam đồng ý cho 15.000 quân Pháp ra miền Bắc thay thế vai trò của quân đội Trung Hoa dân quốc giải giáp quân đội Nhật. Số quân Pháp này sẽ rút dần trong 5 năm (mỗi năm rút 1/5). Hai bên thực hiện ngừng bắn ở Nam Bộ. Pháp đồng ý thực hiện trưng cầu dân ý tại Nam Bộ để quyết định việc tái thống nhất với Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.

Hai bên sẽ tiến hành đàm phán về chế độ tương lai của Đông Dương, quan hệ ngoại giao giữa Việt Nam Dân chủ Cộng hòa với nước ngoài, về các quyền lợi kinh tế, văn hóa của Pháp tại Việt Nam. Cuộc đàm phán này dự kiến diễn ra tại Hà Nội, Sài Gòn hoặc Paris.

Đây là một bước đi có tính toán chiến lược của ta nhằm tranh thủ thời gian hòa hoãn, buộc quân đội Trung Hoa dân quốc nhanh chóng rút về nước, đồng thời giữ vững nền độc lập ban đầu và tránh xung đột trực diện với Pháp khi lực lượng ta còn yếu.

bai hoc tu hiep dinh so bo nam 1946 thoa hiep co nguyen tac, ranh gioi hinh anh 1

Chủ tịch Hồ Chí Minh và các đại biểu Anh, Mỹ, Trung Quốc tại Lễ ký kết Hiệp định Sơ bộ ngày 6/3/1946 (Ảnh tư liệu)

Ý nghĩa to lớn đối với cách mạng Việt Nam

Việc ký kết Hiệp định Sơ bộ có ý nghĩa vô cùng quan trọng đối với sự sinh tồn của chế độ mới.

Trước hết, Việt Nam Dân chủ Cộng hòa loại bớt kẻ thù, tránh đối đầu cùng lúc với nhiều kẻ thù. Đây là ý nghĩa quan trọng nhất. Với Hiệp định Sơ bộ, ta đã “đuổi” được 20 vạn quân Trung Hoa dân quốc và lực lượng tay sai phản động ra khỏi biên giới, tránh được cuộc chiến đấu bất lợi khi thực lực ta còn non trẻ.

Hiệp định Sơ bộ cho phép ta tranh thủ thời gian hòa hoãn quý báu,dù ngắn ngủi, để củng cố chính quyền, xây dựng lực lượng vũ trang, chuẩn bị mọi mặt cho cuộc kháng chiến toàn quốc chống Pháp mà chúng ta dự báo là không thể tránh khỏi.

Hiệp định Sơ bộ khẳng định vị thế quốc tế của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Sau khi tuyên bố độc lập, Việt Nam Dân chủ Cộng hòa chưa được các tổ chức quốc tế và các quốc gia trên thế giới công nhận về mặt ngoại giao. Đây là văn bản pháp lý quốc tế đầu tiên mà Nhà nước Việt Nam ký kết với nước ngoài. Pháp phải thừa nhận Việt Nam là một thực thể chính trị có quân đội và chính phủ riêng, đặt nền móng cho cuộc đấu tranh ngoại giao sau này.

Việc ký hiệp định cho nhân dân thế giới thấy rằng Việt Nam luôn mong muốn hòa bình, chỉ khi bị dồn vào đường cùng mới phải cầm súng tự vệ, từ đó tranh thủ được sự ủng hộ của dư luận quốc tế.

Hiệp định Sơ bộ là văn kiện ngoại giao đầu tiên trì hoãn chiến tranh, và sau đó là Tạm ước 14/9 sau một quá trình đàm phán gay cấn từ Đà Lạt đến Fontainebleau, trước khi toàn quốc kháng chiến chống thực dân Pháp chính thức bùng nổ ngày 19/12/1946.

Có thể nói, Hiệp định Sơ bộ là thành công ngoại giao đầu tiên của nền ngoại giao Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, một mẫu mực về sách lược ngoại giao “dĩ bất biến, ứng vạn biến” của Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng Cộng sản Đông Dương. Chúng ta đã chấp nhận nhân nhượng có nguyên tắc để bảo vệ thành quả lớn nhất là chính quyền cách mạng.