Nhiều người vẫn nghĩ rằng những vị tướng đầu tiên của quân đội ta được phong trong đợt phong tướng đầu tiên năm 1948, sau thắng lợi của Chiến dịch Việt Bắc Thu Đông năm 1947, nhưng ít ai biết rằng vị tướng đầu tiên của quân đội ta được phong từ năm 1946 trong quá trình đấu tranh quân sự và ngoại giao nhằm ngăn chặn âm mưu và làm chậm bước tiến tái xâm lược của quân đội Pháp
Người mang hàm tướng đầu tiên
Lê Thiết Hùng,tên thật là Lê Văn Nghiệm, sinh năm 1908, mất năm 1986, quê quán xã Hưng Thông, huyện Hưng Nguyên, Nghệ An (nay là xã Hưng Nguyên Nam,tỉnh Nghệ An) là một trong những cán bộ quân sự chủ chốt đầu tiên của Quân đội Nhân dân Việt Nam (Thời điểm cuối năm 1946 có tên là Quân đội Quốc gia Việt Nam).
Sắc lệnh số 185/SL ngày 24/9/1946 quy định ông là Thiếu tướng, giữ chức Tổng Chỉ huy Tiếp phòng quân - lực lượng làm nhiệm vụ giám sát quân Pháp thực hiện Hiệp định sơ bộ 6/3/1946.
Thời điểm đó, trong quân đội ta chưa có ai được phong hàm sĩ quan khác, nên việc ghi ông là Thiếu tướng được xem là để tương xứng với sĩ quan Pháp, đồng thời khiến ông trở thành vị Tướng đầu tiên trên thực tế của Quân đội nhân dân Việt Nam.
Đến ngày 7/7/1948, Chủ tịch Hồ Chí Minh mới ký Sắc lệnh 203-SL phong quân hàm Thiếu tướng chính thức cho Lê Thiết Hùng, nằm trong danh sách đợt phong tướng đầu tiên.
Do vậy, trên thực tế, nếu xét theo “người mang quân hàm tướng đầu tiên (Thiếu tướng) trong quân đội ta sau năm 1945” thì đó là Thiếu tướng Lê Thiết Hùng.

Vị tướng đầu tiên của quân đội ta - Tướng Lê Thiết Hùng
Vì sao Lê Thiết Hùng được phong Tướng từ tháng 9/1946
Sau Cách mạng tháng Tám năm 1945, Việt Nam Dân chủ Cộng hòa non trẻ phải đối mặt với nhiều thử thách, đặc biệt là sự trở lại của quân đội Pháp.
Ngày 6/3/1946, Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã ký Hiệp định sơ bộ với Pháp, trong đó có điều khoản về việc quân Pháp được vào miền Bắc thay thế quân đội Trung Hoa dân quốc để làm nhiệm vụ giải giáp quân Nhật.
Để giám sát việc rút quân của quân đội Trung Hoa dân quốc và làm việc với phía Pháp (vốn có lực lượng sĩ quan được phong cấp bậc rõ ràng), Chính phủ lâm thời cần một lực lượng vũ trang tinh nhuệ và một người chỉ huy có cấp bậc tương xứng với sĩ quan Pháp để làm việc và đàm phán tại chỗ.
Lê Thiết Hùng (lúc đó mang bí danh Lê Quốc Vọng) sở hữu những kinh nghiệm quân sự quý báu mà các cán bộ khác chưa có được. Ông đã được Nguyễn Ái Quốc (Lý Thụy) đặt tên Lê Quốc Vọng và đào tạo, đồng thời tốt nghiệp Trường Quân sự Hoàng Phố (Trung Quốc).
Ông từng gia nhập quân đội Quốc dân đảng Trung Quốc và đạt quân hàm Đại hiệu (tương đương Đại tá). Kinh nghiệm này giúp ông có kiến thức về tổ chức quân đội hiện đại thời bấy giờ.
Đối với phong trào cách mạng trong nước, ông là một trong những người tổ chức và lãnh đạo lực lượng vũ trang đầu tiên của ta, đội vũ trang đặc biệt ở Pác Bó.
Trong bối cảnh nước sôi lửa bỏng của cuộc đấu tranh quân sự và ngoại giao lúc đó, Chủ tịch Hồ Chí Minh và Thường vụ Trung ương Đảng đã cân nhắc kỹ lưỡng và xác định: để làm việc với sĩ quan Pháp trong vai trò Tổng Chỉ huy Tiếp phòng quân, cần có một người mang cấp bậc sĩ quan cao cấp, cụ thể là Thiếu tướng.
Với kinh nghiệm “chất thép” đã được tôi luyện trong quân đội Trung Hoa dân quốc, Bác Hồ tin tưởng ông có đủ bản lĩnh, sự cứng rắn và hiểu biết quân sự để đảm đương nhiệm vụ này. Chính Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đặt cho ông tên mới là Lê Thiết Hùng (kết hợp "chất thép" và "chất hùng" dân tộc) để phù hợp với vai trò mới.
Lê Thiết Hùng được phong hàm Thiếu tướng vào tháng 9/1946 theo Sắc lệnh 185/SL chủ yếu là do yêu cầu thực tiễn của công tác ngoại giao và quân sự đối ngoại trong bối cảnh Pháp quay lại, nhằm cử ông làm Tổng Chỉ huy Tiếp phòng quân để làm việc với sĩ quan Pháp, tạo sự tương xứng về cấp bậc. Đây là việc phong hàm trên thực tế trước khi có đợt phong cấp bậc chính thức toàn quân vào năm 1948.
Lê Thiết Hùng và những hoạt động trong năm 1946
Trong năm 1946, Thiếu tướng Lê Thiết Hùng đã đảm nhiệm những vai trò và hoạt động quan trọng, đánh dấu một giai đoạn then chốt trong sự hình thành và củng cố Quân đội nhân dân Việt Nam.
Như đã nói, vào khoảng thời gian này, ông còn mang bí danh Lê Quốc Vọng. Sau khi trở về Hà Nội theo lệnh của Chủ tịch Hồ Chí Minh, ông đã được Bác Hồ đặt tên mới là Lê Thiết Hùng với ý nghĩa "chất thép" và "chất hùng" dân tộc, thể hiện sự tin tưởng vào bản lĩnh và năng lực của ông.
Vào ngày 24/9/1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký Sắc lệnh số 185/SL cử ông giữ chức vụ Tổng Chỉ huy Tiếp phòng quân.
Trong Sắc lệnh này, ông được ghi nhận với quân hàm Thiếu tướng. Việc này nhằm mục đích để ông có thể làm việc và đàm phán với các sĩ quan Pháp một cách tương xứng về cấp bậc, trong bối cảnh quân đội ta lúc đó còn non trẻ và chưa có sĩ quan cấp tướng. Đây là lần đầu tiên một tướng lĩnh của Việt Nam xuất hiện trên giấy tờ chính thức, dù chưa phải là đợt phong quân hàm chính thức chung.
Ông trực tiếp chỉ huy Đội Tiếp phòng quân 10.000 người. Theo Sắc lệnh số 184 ngày 24/9/1946, lực lượng này có nhiệm vụ “cùng quân đội Pháp Tiếp phòng quân Trung Hoa từ 16 vĩ tuyến trở ra Bắc”, theo nội dung Hiệp định sơ bộ 6/3/1946.
Vai trò của ông trong cương vị này là rất quan trọng, đòi hỏi sự khéo léo trong đàm phán, cứng rắn trong nguyên tắc và khả năng chỉ huy để bảo vệ lợi ích quốc gia trong một giai đoạn đầy biến động.
Đến tháng 11/1946, quân đội Trung Hoa dân quốc đã rút khỏi Việt Nam. Ngày 20/11/1946, Thiếu tướng Lê Thiết Hùng được điều động khỏi vị trí Tổng Chỉ huy Tiếp phòng quân.
Như vậy, năm 1946 có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong cuộc đời và sự nghiệp của Lê Thiết Hùng khi ông được Bác Hồ yêu mến đặt tên và đặt ông vào một vị trí quan trọng với cấp bậc Thiếu tướng Quân đội Quốc gia Việt Nam, giám sát quá trình thi hành Hiệp định Sơ bộ. Đây là trọng trách quan trọng trong giai đoạn đầu xây dựng và bảo vệ đất nước.
Tiếp phòng quân, dưới sự Tổng chỉ huy của Thiếu tướng Lê Thiết Hùng, đóng một vai trò đặc biệt quan trọng trong giai đoạn lịch sử đầy biến động của Việt Nam ngay sau năm 1945.
Tiếp phòng quân được thành lập với những nhiệm vụ cốt lõi.
Trước hết là giám sát việc thi hành Hiệp định Sơ bộ (6/3/1946). Đây là nhiệm vụ chính yếu. Sau khi ký Hiệp định Sơ bộ với Pháp, quân đội Pháp được phép vào miền Bắc Việt Nam thay thế quân đội Tưởng Giới Thạch để giải giáp quân Nhật.
Tiếp phòng quân có nhiệm vụ kiểm soát và giám sát chặt chẽ hoạt động của quân đội Pháp, đảm bảo họ tuân thủ đúng các điều khoản đã thỏa thuận trong Hiệp định. Điều này giúp ngăn chặn những hành vi lạm quyền hoặc vi phạm chủ quyền nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.

Thiếu tướng Lê Thiết Hùng và Đại tướng Võ Nguyên Giáp (Ảnh tư liệu)
Bên cạnh nhiệm vụ đối ngoại với quân Pháp, Tiếp phòng quân còn có vai trò duy trì trật tự và an ninh trên địa bàn mà quân đội Tưởng Giới Thạch đã rút đi, đồng thời chuẩn bị cho việc tiếp quản của quân đội ta.
Trong quá trình giải giáp quân Nhật, quân đội ta (thông qua Tiếp phòng quân) cũng làm việc và phối hợp với các lực lượng Đồng Minh khác có mặt tại Việt Nam.
Việc Thiếu tướng Lê Thiết Hùng được bổ nhiệm làm Tổng Chỉ huy Tiếp phòng quân thể hiện tầm nhìn chiến lược của Đảng và Chính phủ. Việc phong hàm Thiếu tướng cho ông giúp tạo ra sự tương xứng về cấp bậc khi làm việc, đàm phán và giám sát các sĩ quan Pháp, những người đã có hệ thống quân hàm rõ ràng. Điều này thể hiện sự tôn trọng nhưng cũng khẳng định vị thế của Việt Nam.
Lê Thiết Hùng có kinh nghiệm quân sự từ môi trường quốc tế (Trường Hoàng Phố) và kinh nghiệm tổ chức lực lượng vũ trang ban đầu. Ông được đánh giá là người có bản lĩnh, quyết đoán, phù hợp với một nhiệm vụ nhạy cảm và đòi hỏi sự kiên quyết như vậy.
Việc thành lập và giao quyền chỉ huy Tiếp phòng quân cho ông cũng là một bước đi trong quá trình xây dựng và chuyên nghiệp hóa quân đội, từ việc thiết lập các chức danh lãnh đạo cấp cao đến việc tổ chức lực lượng có vai trò cụ thể trong bối cảnh quốc tế phức tạp
Tiếp phòng quân và Tổng Chỉ huy Lê Thiết Hùng đã đóng vai trò như một lá chắn pháp lý và an ninh quan trọng, giúp bảo vệ lợi ích quốc gia và duy trì sự ổn định trong giai đoạn mong manh sau khi giành được độc lập.
Việc giám sát hoạt động của quân đội Pháp bởi Tiếp phòng quân dưới sự chỉ huy của Thiếu tướng Lê Thiết Hùng là một phần không thể tách rời trong nỗ lực của Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa nhằm thực thi Hiệp định Sơ bộ 6/3/1946, dù trên thực tế gặp rất nhiều khó khăn và không đạt được sự tuân thủ tuyệt đối từ phía Pháp.
Nhiệm vụ trực tiếp của Tiếp phòng quân là giám sát việc quân Pháp vào thay thế quân đội Quốc Dân Đảng Trung Hoa để giải giáp quân Nhật theo Hiệp định Sơ bộ. Việc giám sát này có phần thành công trong việc chứng kiến sự rút đi của quân Trung Hoa Dân Quốc.
Tuy nhiên, Pháp không thực hiện đúng cam kết. Mặc dù Hiệp định Sơ bộ quy định Pháp sẽ rút hết quân trong 5 năm, mỗi năm rút 1/5, và hai bên sẽ mở đàm phán về chế độ tương lai. Nhưng trên thực tế, Pháp chỉ xem Hiệp định Sơ bộ là một rào cản ngăn họ nhanh chóng lấn tới. Cao ủy Pháp ở Đông Dương Đông Dương Georges Thierry d'Argenlieu đã liên tục làm mất giá trị hiệp định này bằng cách tuyên bố thành lập Cộng hòa Tự trị Nam Kỳ vào ngày 1/6/1946, đi ngược lại điều khoản Pháp đồng ý trưng cầu ý dân về việc thống nhất Nam Kỳ.
Trong môi trường căng thẳng và có sự vi phạm rõ ràng từ phía Pháp, quyền lực giám sát thực tế của Tiếp phòng quân bị hạn chế đáng kể, chủ yếu hoạt động trong phạm vi được cho phép và không đủ sức mạnh quân sự để buộc Pháp phải tuân thủ triệt để các điều khoản ngoại giao.
Khi các cuộc đàm phán tiếp theo (Đà Lạt, Fontainebleau) thất bại do lập trường cứng rắn của Pháp, Chính phủ Việt Nam buộc phải chuyển hướng. Cuối năm 1946, tình hình căng thẳng leo thang, dẫn đến việc Pháp công khai phá vỡ Hiệp định Sơ bộ. Tiếp phòng quân dần chuyển sang vai trò tổ chức phòng thủ và chuẩn bị cuộc kháng chiến toàn quốc.
