Di chúc ra đời giữa những năm tháng ác liệt nhất của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, là một văn kiện đặc biệt, một cương lĩnh hành động, tài sản vô giá cuối cùng Người để lại cho nhân dân Việt Nam. Bản Di chúc được công bố ngày 15/5/1969[1] đề cập tới nhiều nội dung quan trọng và những giá trị cốt lõi
Tiên đoán và khẳng định niềm tin chắc thắng của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước
Ngay những dòng đầu tiên của Di chúc đã thể hiện nội dung về cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của nhân dân Việt Nam đang tiến hành. Tuy dung lượng không nhiều, tổng cộng có 266 từ, nhưng thể hiện rõ tư tưởng, mong muốn, niềm tin và những chỉ dẫn của Người về cuộc kháng chiến.
Di chúc khẳng định: Cuộc chống Mỹ, cứu nước của nhân dân ta dù phải kinh qua gian khổ, hy sinh nhiều hơn nữa, song nhất định thắng lợi hoàn toàn và: CUỘC KHÁNG CHIẾN CHỐNG MỸ có thể còn kéo dài. Đồng bào ta có thể phải hy sinh nhiều của, nhiều người. Dù sao, chúng ta phải quyết tâm đánh Mỹ đến thắng lợi hoàn toàn… Dù khó khăn, gian khổ đến mấy nhân dân ta nhất định sẽ hoàn toàn thắng lợi… Người 3 lần khẳng định cuộc kháng chiến sẽ giành được thắng lợi hoàn toàn và 5 lần dùng cụm từ nhất định: nhân dân ta nhất định sẽ hoàn toàn thắng lợi. Đế quốc Mỹ nhất định phải cút khỏi nước ta. Tổ quốc ta nhất định sẽ thống nhất. Đồng bào Nam Bắc nhất định sẽ sum họp một nhà… Thế là, vượt lên trên sự căn dặn bình thường, Di chúc là sự tiên đoán, dự liệu về thực tiễn, kết quả của cuộc kháng chiến, tương lai của đất nước.
Để lại kinh nghiệm cốt lõi trong công tác xây dựng Đảng
Điều đầu tiên nói về Đảng, Người đặc biệt căn dặn phải đoàn kết, nhất là đoàn kết, thống nhất trong điều kiện Đảng đang nắm quyền lãnh đạo. Người viết: "Đoàn kết là một truyền thống cực kỳ quý báu của Đảng và của dân ta. Các đồng chí từ Trung ương đến các chi bộ cần phải giữ gìn sự đoàn kết nhất trí của Đảng như giữ gìn con ngươi của mắt mình".
Người hiểu rất rõ sức mạnh của sự đoàn kết, nhất trí. Chỉ có đoàn kết, đồng tâm nhất trí mới mang lại sức mạnh tập thể, mới làm mọi việc thành công. Bằng trải nghiệm hoạt động thực tiễn cách mạng phong phú của chính bản thân, Người thấu hiểu hơn ai hết giá trị và sức mạnh của sự đoàn kết, thống nhất.
Người lưu ý cán bộ từ Trung ương tới các chi bộ cần phải luôn luôn giữ gìn sự đoàn kết trong Đảng. Nội bộ Đảng có đoàn kết thì mới tập hợp được lực lượng của toàn dân, mới đoàn kết được quốc tế, mới chống lại được các thủ đoạn đánh phá của kẻ thù. Người dặn lại hậu thế phải giữ gìn sự đoàn kết nhất trí trong Đảng như giữ gìn con ngươi của mắt mình. Với mỗi con người, đôi mắt không khác gì tính mạng và trong đôi mắt, con ngươi giữ vai trò đặc biệt quan trọng. Giữ gìn “con ngươi” chính là giữ gìn tính mạng. Giữ gìn sự đoàn kết trong Đảng chính là bảo vệ sự trường tồn vững mạnh của Đảng.

Bác Hồ trong khoảnh khắc làm việc bên chiếc máy chữ thân yêu (Ảnh tư liệu)
Di chúc chỉ ra giải pháp để giữ gìn sự đoàn kết là: "Trong Đảng thực hành dân chủ rộng rãi, thường xuyên và nghiêm chỉnh tự phê bình và phê bình là cách tốt nhất để củng cố và phát triển sự đoàn kết và thống nhất của Đảng" và phải có tình đồng chí yêu thương, giúp đỡ lẫn nhau một cách thật sự và tự giác, không giả dối. Đó cũng là quy luật tồn tại, phát triển của Đảng.
Là người sáng lập, lãnh đạo và rèn luyện Đảng, Người cân nhắc từng câu, từng chữ khi dặn lại: "Đảng ta là một Đảng cầm quyền. Mỗi đảng viên và cán bộ phải thực sự thấm nhuần đạo đức cách mạng, thật sự cần kiệm liêm chính, chí công vô tư. Phải giữ gìn Đảng ta thật trong sạch, phải xứng đáng là người lãnh đạo, là người đầy tớ thật trung thành của nhân dân". Đây cũng chính là phẩm chất, là đạo đức, là văn minh của Đảng và là một trong những yếu tố trọng yếu để dân yêu Đảng, tin Đảng và để Đảng có dân.
Khẳng định quan điểm lấy dân làm gốc
Nhân dân trong trong tư tưởng Hồ Chí Minh chính là quần chúng thuộc các thành phần, các giới, các lứa tuổi, đồng bào các dân tộc trong cộng đồng dân tộc Việt Nam và họ là trung tâm, những người làm chủ xã hội.
Trước lúc đi xa, Người để lại muôn vàn tình yêu thương cho hết thảy mọi người dân Việt Nam. Người căn dặn, nhắc nhở Đảng phải chú ý giáo dục, đào tạo, bồi dưỡng các đoàn viên, thanh niên. Bởi đây là lực lượng “không ngại khó khăn, có chí tiến thủ” và là những người kế cận, đội hậu bị của Đảng. Bồi dưỡng thế hệ sau cho cách mạng là công việc rất quan trọng, rất cần thiết của Đảng. Đảng phải bồi dưỡng, đào tạo họ thành những người thừa kế xây dựng chủ nghĩa xã hội vừa “hồng” vừa “chuyên”. Đây là một điều kiện quan trọng đảm bảo sự cầm quyền vững mạnh của Đảng, thể hiện tầm nhìn xa, trông rộng của vị lãnh tụ.
Đặc biệt, Di chúc dành một phần quan trọng nói về nhân dân. Theo Người: “Nhân dân lao động ta ở miền xuôi cũng như ở miền núi, đã bao đời chịu đựng gian khổ” nhưng lại rất “anh hùng, dũng cảm, hăng hái, cần cù. Từ ngày có Đảng, nhân dân ta luôn đi theo Đảng, rất trung thành với Đảng”. Vì thế, Đảng cần phải có kế hoạch thật tốt để phát triển kinh tế và văn hoá, nhằm không ngừng nâng cao đời sống của nhân dân”.
Trong Di chúc, Người viết nghiêng cụm từ “nâng cao đời sống của nhân dân”, chỉ thế thôi cũng đủ cho thấy tình cảm trân quý, sâu sắc của Người dành cho nhân dân. Với Người, nhân dân là người làm nên lịch sử, cán bộ cũng từ dân mà ra, Đảng muốn mạnh cũng phải dựa vào dân, dân có sức mạnh dời non lấp bể. Nước thịnh hay suy, cách mạng thành hay bại phụ thuộc chủ yếu vào nhân dân, vào hiệu quả của việc huy động, phát huy sức mạnh của nhân dân.
Song, muốn huy động được sức mạnh của nhân dân thì phải biết giúp dân tạo ra, phát triển sức mạnh đó, ấy chính là an dân, bồi dưỡng sức dân. Đây là việc làm quan trọng hàng đầu của Đảng và là mong ước cháy bỏng của Người sau khi kháng chiến thắng lợi. Người mong muốn mọi việc Đảng làm luôn phải hướng tới lợi ích của nhân dân, vì nhân dân mà phục vụ.

Một trang bản thảo Di chúc (Ảnh tư liệu)
Phải xây dựng tình đoàn kết quốc tế rộng rãi
Cách mạng Việt Nam là một bộ phận của cuộc cách mạng vô sản thế giới, cần phải xây dựng tình đoàn kết quốc tế rộng rãi được Người nêu rõ trong nhiều văn kiện trước đó.
Bằng đường lối đối ngoại đúng đắn, chiến lược đoàn kết quốc tế phù hợp, nhân dân Việt Nam đã nhận được sự đồng tình, giúp đỡ của bạn bè quốc tế trong suốt hành trình giành, giữ độc lập của dân tộc. Việt Nam tự hào vì đã “góp phần xứng đáng vào phong trào giải phóng dân tộc” trên thế giới.
Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, Việt Nam nhận được sự giúp đỡ to lớn của quốc tế, đặc biệt là của Trung Quốc, Liên Xô. Tuy nhiên hai nước lớn Liên Xô, Trung Quốc lại có những bất đồng, mâu thuẫn nghiêm trọng và ảnh hưởng không nhỏ đến cuộc kháng chiến của Việt Nam cũng như tình đoàn kết hữu nghị của ba nước.
Làm thế nào để gây dựng được tình đoàn kết quốc tế sâu rộng, làm thế nào để giải quyết mối bất hoà trong phe xã hội chủ nghĩa, làm thế nào để tăng cường sức mạnh toàn diện cho cuộc kháng chiến… là điều mà Hồ Chí Minh luôn trăn trở ưu tư, là mối quan tâm sâu sắc, thể hiện chủ nghĩa quốc tế vô sản cao cả của Người đối với sự nghiệp cách mạng thế giới.
Bởi thế, Người viết trong Di chúc: “Là một người suốt đời phục vụ cách mạng, tôi càng tự hào với sự lớn mạnh của phong trào cộng sản và công nhân quốc tế bao nhiều, thì tôi càng đau lòng bấy nhiêu vì sự bất hoà hiện nay giữa các đảng anh em. Tôi mong rằng Đảng ta sẽ ra sức hoạt động góp phần vào việc khôi phục lại khối đoàn kết giữa các đảng anh em trên nền tảng chủ nghĩa Mác-Lênin và chủ nghĩa quốc tế vô sản có lý, có tình”.
Việt Nam là một dân tộc yêu hoà bình, trọn nghĩa vẹn tình, đã trải qua hàng chục cuộc chiến đấu chống xâm lược nên hiểu hơn ai hết giá trị của độc lập, tự do. Ngay ở phần đầu Di chúc, Người đã nói rõ ý định sau khi cuộc kháng chiến chống Mỹ giành thắng lợi, nếu còn sống cho đến lúc đó, Người sẽ thay mặt nhân dân cả nước đi thăm và bày tỏ sự cảm ơn các nước anh em trong phe xã hội chủ nghĩa và bầu bạn khắp năm châu đã tận tình ủng hộ nhân dân Việt Nam. Là một Người đã dành cả cuộc đời cho cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc mình, một chiến sĩ cộng sản quốc tế kiên cường, bằng khả năng của mình, Người đã đem hết sức để xây dựng phong trào cộng sản quốc tế, vun đắp, dựng xây tình đoàn kết quốc tế.
Trong tất cả những điều dặn lại của bản Di chúc, nói về việc riêng, Người để ở nội dung cuối cùng, chỉ vỏn vẹn 79 chữ, đúng với đức tính khiêm nhường, chí công vô tư trong suốt cuộc đời 79 năm trên dương thế của mình. Một sự trùng hợp ngẫu nhiên kỳ lạ đáng để mọi người suy ngẫm và kính phục.
Di chúc khép lại với điều mong muốn cuối cùng của Người là: “Toàn Đảng, toàn dân ta đoàn kết phấn đấu, xây dựng một nước Việt Nam hoà bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh, và góp phần xứng đáng vào sự nghiệp cách mạng thế giới”. Đó là những điều làm nên giá trị trường tồn của Di chúc.
[1]Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia - Sự thật, Hà Nội, 2011, t.15, tr.611-614. Các trích dẫn trong bài viết trích từ bản Di chúc này.
